Cuộc chiến của chúng tôi, mối thù truyền kiếp giữa ma cà rồng và người sói, đã khơi mào từ nhiều thế kỷ trước bằng những cuộc leo thang bạo lực tàn khốc, lên đến đỉnh điểm trong những dòng máu sặc sỡ tuôn trào, và rồi kết thúc một cách lãng xẹt bên chiếc bánh kem bơ vào ngày đầu tiên tôi gặp chồng mình.

Mà trớ trêu thay, đó cũng chính là ngày cưới của chúng tôi.

Chẳng giống trong mơ tẹo nào. Mà nói đi cũng phải nói lại, tôi vốn không phải kẻ mộng mơ. Đời tôi mới chỉ nghĩ đến chuyện kết hôn đúng một lần, từ cái thuở ấu thơ u ám xa xăm. Dạo ấy, sau vài trận phạt đòn thừa sống thiếu chết cùng một âm mưu ám sát bất thành đầy vụng về, tôi và Serena đã vạch ra một kế hoạch đào tẩu vĩ đại. Kế hoạch bao gồm việc tạo hỏa mù bằng pháo hoa, chôm chiếc xe của gia sư dạy toán, rồi giơ ngón tay thối chào tạm biệt những kẻ nuôi dưỡng qua gương chiếu hậu.

“Chúng mình sẽ ghé qua trạm cứu hộ động vật và nhận nuôi một chú chó lông xù. Mua một ly đá bào cho tớ, ít máu cho cậu. Rồi biến mất mãi mãi vào lãnh địa Loài Người.”

“Họ có cho tớ vào không nếu tớ không phải Người?” Tôi hỏi, dù đó là lỗ hổng nhỏ nhất trong cái kế hoạch này. Lúc ấy cả hai mới mười một tuổi. Chẳng đứa nào biết lái xe. Và nền hòa bình giữa các chủng tộc ở vùng Tây Nam này, theo đúng nghĩa đen, hoàn toàn phụ thuộc vào việc tôi phải ngoan ngoãn ngồi yên một chỗ.

“Tớ sẽ bảo lãnh cho cậu.”

“Thế là đủ sao?”

“Tớ sẽ cưới cậu! Họ sẽ tin cậu là Người – người vợ Loài Người của tớ.”

Cầu hôn thì nghe cũng khá bùi tai. Thế nên tôi đã gật đầu đầy trịnh trọng và bảo: “Tớ đồng ý.”

Nhưng chuyện đó đã từ mười bốn năm trước, và Serena chẳng bao giờ cưới tôi cả. Thực tế là cậu ấy đã đi xa từ lâu. Còn tôi thì đang ở đây một mình, bủa vây giữa một đống quà cưới xa xỉ, với hy vọng chúng sẽ đánh lạc hướng các quan khách khỏi sự thật là giữa tôi và chú rể chẳng có chút tình yêu, sự tương thích về nòi giống, hay thậm chí là một lần gặp mặt làm quen từ trước.

Tôi đã từng cố sắp xếp một cuộc hẹn. Tôi bảo người của mình bắn tin sang phía bên kia rằng hai đứa có thể ăn trưa với nhau một tuần trước hôn lễ. Hoặc uống cà phê vào hôm trước đó. Hay một ly nước lọc vào ngay buổi sáng cử hành hôn lễ cũng được, bất cứ thứ gì để tránh việc phải ngượng ngùng chào nhau trước mặt chủ tế. Yêu cầu của tôi được đệ trình lên Hội đồng Ma cà rồng, và kết quả là một cuộc gọi từ trợ lý của một thành viên trong đó. Giọng điệu của gã vừa đủ lịch sự nhưng lại đầy ẩn ý rằng tôi là một con điên chính hiệu. “Hắn ta là một Người sói. Một Người sói vô cùng quyền lực và nguy hiểm. Chỉ riêng việc lên phương án an ninh cho một cuộc gặp như vậy đã là…”

“Tôi chuẩn bị kết hôn với kẻ nguy hiểm đó đấy,” tôi thản nhiên nhắc nhở, và đầu dây bên kia vang lên tiếng hắng giọng đầy ngượng ngùng.

“Hắn là một Alpha, cô Lark. Quá bận để gặp mặt.”

“Bận chuyện gì cơ…?”

“Chuyện của đàn, thưa cô Lark.”

Tôi mường tượng ra cảnh hắn ta đang ở trong phòng tập gym tại gia, hùng hục tập cơ bụng không biết mệt mỏi, rồi nhún vai.

Mười ngày trôi qua, và tôi vẫn chưa được gặp mặt chú rể của mình. Thay vào đó, tôi trở thành một dự án, một công trình đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của cả một đội ngũ chuyên gia để trông sao cho ra dáng một cô dâu. Thợ làm móng đang chuốt lại bộ móng của tôi thành những hình oval màu hồng. Chuyên viên chăm sóc da vỗ bôm bốp vào má tôi một cách đầy hứng khởi. Thợ làm tóc biến hóa tài tình để giấu đi đôi tai nhọn dưới những lọn tóc tết màu vàng sẫm, còn chuyên gia trang điểm thì đang vẽ lên một khuôn mặt hoàn toàn khác, trông đầy cuốn hút, kiêu sa với những đường nét góc cạnh nổi bật.

“Đây đúng là nghệ thuật,” tôi bảo anh ta khi nhìn ngắm những đường khối trong gương. “Anh xứng đáng nhận học bổng nghệ thuật Guggenheim đấy.”

“Tôi biết chứ. Và tôi vẫn chưa xong đâu,” anh ta lên tiếng chấn chỉnh, trước khi nhúng ngón tay cái vào hũ màu nhuộm xanh lục đậm rồi quẹt lên mặt trong hai cổ tay tôi. Hai bên hõm cổ. Và cả sau gáy.

“Cái gì đây?”

“Chút màu sắc thôi.”

“Để làm gì?”

Anh ta hứ một tiếng. “Tôi đã phải dùng đến các mối quan hệ và nghiên cứu kỹ phong tục của Người sói đấy. Chồng cô sẽ thích nó cho mà xem.” Anh ta lướt đi, để lại tôi một mình với năm vệt màu kỳ lạ và một cấu trúc xương mặt hoàn toàn mới. Tôi ních người vào bộ jumpsuit cưới mà stylist đã cầu xin tôi đừng gọi nó là pyjama liền thân, và rồi người anh em sinh đôi của tôi bước vào để đón tôi đi.

“Nhìn lộng lẫy đấy,” Owen nói bằng giọng đều đều đầy ngờ vực, anh nheo mắt nhìn tôi như thể đang soi một tờ mười đô giả.

“Công sức của cả một ê-kíp đấy.”

Anh hất hàm ra hiệu cho tôi đi theo. “Hy vọng trong lúc làm mấy cái đó, họ đã tiện tay tiêm phòng dại cho em luôn rồi.”

Buổi lễ này đáng ra phải là một biểu tượng của hòa bình. Chính vì thế, trong một biểu hiện đầy “ấm lòng” về sự tin tưởng lẫn nhau, cha tôi đã yêu cầu một đội an ninh vũ trang toàn bộ là Ma cà rồng để bảo vệ hôn lễ. Phía Người sói từ chối, dẫn đến nhiều tuần đàm phán căng thẳng, suýt chút nữa thì hủy hôn, và cuối cùng đi đến một giải pháp duy nhất khiến tất cả các bên đều không vừa lòng: thuê Người phàm làm ban trị sự và bảo an cho sự kiện.

Bầu không khí vốn đã căng thẳng, giờ còn tệ hơn thế này. Một địa điểm, ba chủng tộc, năm thế kỷ xung đột, và không một chút thiện chí. Những gã mặc vest đen hộ tống tôi và Owen trông như thể đang giằng xé giữa việc bảo vệ chúng tôi hay tự tay kết liễu chúng tôi luôn cho rảnh nợ. Họ đeo kính râm ngay trong nhà và lẩm bẩm mấy cái mật mã nghe ngớ ngẩn đến buồn cười vào ống tay áo. Dơi đang bay đến sảnh lễ. Nhắc lại, chúng ta đã có Dơi.

Còn chú rể được gọi là Sói, chẳng có gì sáng tạo.

“Em nghĩ khi nào gã chồng tương lai sẽ tìm cách giết em?” Owen hỏi với giọng khơi chuyện, mắt nhìn thẳng về phía trước. “Ngày mai? Hay tuần sau?”

“Ai biết được.”

“Chắc chắn là trong vòng một tháng thôi.”

“Chắc chắn rồi.”

“Ai cũng tự hỏi liệu bọn Người sói sẽ chôn xác em hay là… em biết đấy, xơi tái luôn.”

“Ừ, phải tự hỏi chứ.”

“Nhưng nếu muốn sống thọ thêm chút nữa, thử ném một khúc cây khi gã bắt đầu lao vào xé xác cô xem. Nghe nói bọn chúng thích chơi trò nhặt đồ lắm…”

Tôi đột ngột dừng lại, khiến toán đặc vụ hơi nhốn nháo. “Owen,” tôi gọi, quay sang nhìn anh trai mình.

“Gì thế, Misery?” Ánh mắt anh khóa chặt lấy tôi. Bất chợt, chiếc mặt nạ lười nhác, cợt nhả thường ngày của anh rơi rụng, anh không còn là tên người thừa kế nông cạn của cha tôi nữa, mà là người anh trai từng lẻn vào giường ngủ cùng tôi mỗi khi tôi gặp ác mộng, người từng thề sẽ bảo vệ tôi khỏi sự tàn nhẫn của Loài Người và sự khát máu của lũ Người sói.

Chuyện đó đã từ nhiều thập kỷ trước rồi.

Em biết chuyện gì đã xảy ra vào lần cuối cùng lũ Ma cà rồng và Người sói thử làm trò này rồi mà,” anh chuyển sang nói bằng tiếng Mẹ Đẻ.

Đương nhiên là tôi biết rõ. Thảm kịch Aster có mặt trong mọi cuốn sách giáo khoa, dẫu mỗi bên lại diễn giải theo một cách hoàn toàn khác nhau. Cái ngày mà sắc tím trong máu của chúng tôi và sắc xanh trong máu của Người sói hòa vào làm một, rực rỡ và đẹp đẽ như đóa hoa Aster đang kỳ nở rộ – loài hoa được lấy tên đặt cho cuộc thảm sát ấy. “Sau chuyện đó thì kẻ điên nào lại chịu dấn thân vào một cuộc hôn nhân chính trị cơ chứ?

Em anh chứ ai, rành rành ra đấy.

Em sẽ phải sống giữa bầy sói. Một mình.

Đúng thế. Bản chất của việc trao đổi con tin là vậy mà.” Quanh chúng tôi, những gã mặc vest vội vã xem đồng hồ. “Chúng ta phải đi thôi…

Một mình chờ bị làm thịt.” Quai hàm Owen bạnh lại. Trông anh chẳng giống vẻ bất cần đời thường ngày chút nào, khiến tôi phải nhíu mày.

Từ bao giờ anh lại quan tâm thế?

Sao em lại đồng ý làm chuyện này?

Bởi vì liên minh với Người sói là cần thiết cho sự sinh tồn của…

Đấy là lời của cha. Đó không phải lý do em đồng ý.

Đúng là không phải, nhưng tôi không đời nào thừa nhận. “Có lẽ anh đã đánh giá thấp tài thuyết phục của cha rồi.

Giọng anh hạ xuống thành tiếng thì thầm. “Đừng làm thế. Đây là bản án tử đấy. Cứ bảo là em đổi ý rồi… cho anh sáu tuần.

Sáu tuần thì thay đổi được gì cơ chứ?

Anh ngập ngừng. “Một tháng. Anh…

“Có chuyện gì không ổn sao?” Cả hai chúng tôi đều giật mình trước giọng điệu sắc lẹm của cha. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, chúng tôi lại biến thành những đứa trẻ năm xưa, lại bị quở trách chỉ vì bản thân đang tồn tại. Như mọi khi, Owen lấy lại bình tĩnh nhanh hơn.

“Không có gì đâu ạ.” Nụ cười trống rỗng, vô hồn lại xuất hiện trên môi anh. “Con chỉ đang dặn dò Misery vài điều thôi.”

Cha gạt đám bảo an sang bên rồi khoác tay tôi vào khuỷu tay ông một cách tự nhiên, như thể cái lần cuối cùng chúng tôi chạm vào nhau không phải là từ một thập kỷ trước vậy. Tôi phải ép bản thân không được rụt lại. “Sẵn sàng chưa, Misery?”

Tôi nghiêng đầu. Quan sát gương mặt nghiêm nghị của ông. Rồi hỏi, phần lớn chỉ vì tò mò, “Điều đó có quan trọng không cha?”

Chắc là không rồi, vì câu hỏi của tôi bị ngó lơ hoàn toàn. Owen lặng lẽ nhìn chúng tôi rời đi, gương mặt không chút cảm xúc, rồi gọi với theo: “Mong là em có mang theo cây lăn bụi. Nghe nói bọn chúng rụng lông dữ lắm.

Một đặc vụ chặn chúng tôi lại trước cánh cửa đôi dẫn ra sân trong. “Nghị viên Lark, cô Lark, xin chờ một chút. Phía bên trong vẫn chưa chuẩn bị xong.” Chúng tôi đứng chờ bên nhau trong vài khoảnh khắc ngột ngạt, rồi cha quay sang nhìn tôi. Nhờ đôi giày cao gót do stylist chỉ định, tôi gần như cao bằng ông, và ánh mắt ông dễ dàng bắt gặp ánh mắt tôi.

Con nên cười đi,” ông ra lệnh bằng tiếng Mẹ Đẻ. “Theo lời Loài Người, ngày cưới là ngày đẹp nhất trong đời của cô dâu.

Khóe môi tôi giật giật. Có cái gì đó khôi hài một cách quái dị trong tất cả chuyện này. “Thế còn với cha của cô dâu thì sao?

Ông thở dài. “Con lúc nào cũng cứng đầu cứng cổ.

Không lúc nào ông không nhìn thấy sự thất bại của tôi.

Không có đường lui nữa đâu, Misery,” ông nói thêm, giọng không hẳn là tuyệt tình. “Một khi nghi lễ thắt nút (handfasting) hoàn thành, con sẽ là vợ của hắn.

Con biết.” Tôi không cần sự an ủi hay khích lệ. Tôi chưa bao giờ lung lay trong cam kết đối với cuộc hôn nhân này. Tôi không phải đứa dễ hoảng loạn, sợ hãi, hay thay lòng đổi dạ vào phút chót. “Con từng làm chuyện này rồi mà, cha nhớ không?

Ông nhìn tôi đăm đăm trong vài giây, cho đến khi cánh cửa mở ra, đón tôi vào phần đời còn lại của mình.

Đó là một đêm hoàn hảo cho một buổi lễ ngoài trời: những dải đèn dây lấp lánh, gió hiu hiu thổi, và những vì sao nhấp nháy. Tôi hít một hơi thật sâu, nín thở, và lắng nghe bản hành khúc của Mendelssohn được tấu lên bởi một nhóm tứ tấu đàn dây. Theo lời cô nàng lên kế hoạch đám cưới lăng xăng, người suốt ngày làm nổ tung điện thoại của tôi bằng những đường link mà tôi chẳng buồn bấm vào, thì nghệ sĩ viola là thành viên của Dàn nhạc Giao hưởng Loài Người. Nằm trong top ba thế giới, cô ta nhắn thế, kèm theo một rổ dấu chấm than nhiều hơn tổng số dấu chấm than tôi từng dùng trong tất cả các văn bản từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ. Nhưng phải công nhận, nghe cũng hay thật. Ngay cả khi các quan khách cứ nhìn quanh quất, bối rối không biết phải làm gì cho đến khi một nhân viên đang ngập đầu trong việc ra hiệu bảo họ đứng lên.

Đó không phải lỗi của họ. Nghi thức đám cưới, từ khoảng một thế kỷ trở lại đây, hoàn toàn là trò của Loài Người. Xã hội Ma cà rồng đã tiến hóa vượt qua chế độ một vợ một chồng từ lâu, còn Người sói… tôi chẳng rõ bọn họ sống kiểu gì, vì tôi còn chưa từng đứng gần một tên nào bao giờ.

Nếu có, thì giờ tôi chẳng còn mạng mà đứng đây.

“Đi thôi.” Cha siết nhẹ khuỷu tay tôi, và chúng tôi bắt đầu tiến vào lễ đường.

Quan khách bên nhà gái trông ai cũng quen quen, nhưng chỉ là mang máng. Cả một biển những dáng người mảnh khảnh, đôi mắt màu tử đinh hương không bao giờ chớp, và đôi tai nhọn. Những bờ môi mím chặt để giấu đi chiếc răng nanh, cùng những ánh nhìn nửa thương hại, nửa ghê tởm. Tôi nhận ra vài thành viên trong phe cánh thân tín của cha; những nghị viên tôi chưa từng gặp lại từ hồi còn nhỏ; các gia tộc quyền thế cùng đám con cháu của họ, những kẻ phần lớn đều xun xoe nịnh bợ Owen và đối xử với tôi như rác rưởi khi còn là những đứa trẻ. Chẳng một ai ở đây có thể xem là bạn bè, nhưng nói đỡ cho người lên danh sách khách mời thì với cái sự thiếu thốn các mối quan hệ nghiêm túc của tôi, việc lấp đầy chỗ trống chắc cũng là một thử thách không nhỏ.

Và rồi đến phía nhà trai. Cái phía đang tỏa ra một thứ hơi nóng xa lạ. Cái phía muốn tôi phải chết.

Dòng máu của Người sói đập nhanh hơn, mạnh hơn, tỏa ra mùi tanh nồng như đồng rỉ vô cùng xa lạ. Họ cao hơn Ma cà rồng, mạnh hơn Ma cà rồng, nhanh hơn Ma cà rồng, và dường như chẳng một ai trong số họ hào hứng với ý tưởng vị Alpha của mình lại đi cưới một kẻ thuộc giống loài chúng tôi. Môi bọn họ cong lên khi nhìn tôi soi mói, đầy thách thức và giận dữ. Sự căm ghét của họ đặc quánh đến mức tôi có thể nếm trải được vị đắng ngắt ngay trong vòm họng.

Tôi không trách họ. Tôi chẳng trách bất kỳ ai vì không muốn có mặt ở đây. Tôi thậm chí còn chẳng chấp nhặt những tiếng xầm xì, những lời nhận xét chua ngoa, hay cái thực tế là một nửa số khách khứa ở đây chưa bao giờ học được bài học rằng âm thanh có thể truyền đi xa đến mức nào.

… Cô ta từng làm Người thế chấp trao đổi với Loài Người suốt mười năm trời, và giờ lại đến chuyện này sao?

Tôi cá là cô ta thích được chú ý lắm…

“... lũ đỉa tai nhọn…

Tôi đoán cô ta trụ được hai tuần.

“Có mà hai tiếng thì có, nếu đám thú vật đó…”

“… Hoặc là sẽ ổn định được vùng này mãi mãi, hoặc là lại khơi mào một cuộc chiến toàn diện nữa thôi…”

“… Liệu cô nghĩ tối nay bọn họ có thực sự lên giường với nhau không?”

Bên trái không có bạn, bên phải toàn là thù. Vì thế tôi trấn tĩnh lại và nhìn thẳng về phía trước.

Nhìn vào người chồng tương lai của mình.

Anh ta đứng ở cuối con đường, quay lưng về phía tôi, chăm chú lắng nghe ai đó đang thì thầm vào tai, hình như là phù rể. Tôi không nhìn rõ mặt hắn, nhưng tôi biết mình nên kỳ vọng điều gì dựa theo tấm hình được đưa cho vài tuần trước: đẹp trai, nổi bật, và không bao giờ cười. Móc tóc anh ta cắt ngắn, kiểu đầu đinh màu nâu hạt dẻ; bộ vest đen ôm khít lấy bờ vai rộng vững chãi. Anh ta là người đàn ông duy nhất trong phòng không thắt cà vạt, thế nhưng trông anh ta vẫn toát lên vẻ lịch lãm ngút trời.

Có khi hai đứa chung một stylist cũng nên. Tôi đoán đó cũng là một điểm khởi đầu tốt cho một cuộc hôn nhân đấy chứ.

Hãy cẩn thận với hắn,” cha thì thầm, môi mấp máy rất khẽ. “Hắn rất nguy hiểm. Đừng có gây chuyện với hắn.

Đúng là những lời mà mọi cô gái đều muốn nghe khi chỉ còn cách bàn lễ mười bước chân, nhất là khi bờ vai thẳng thớm của chú rể trông đã có vẻ bực bội sẵn rồi. Nôn nóng. Khó chịu. Anh ta chẳng thèm liếc mắt về phía tôi lấy một cái, như thể tôi là kẻ vô giá trị, như thể anh ta còn nhiều việc khác tốt hơn để làm với quỹ thời gian của mình. Tôi tự hỏi gã phù rể đang thì thầm cái gì vào tai hắn. Biết đâu lại là một bản sao y đúc những lời cảnh báo tôi vừa nhận được.

Misery Lark á? Chẳng cần cẩn thận đâu. Cô ta cũng chẳng nguy hiểm lắm đâu, gây chuyện thoải mái đi. Cô ta làm được gì cơ chứ? Ném cây lăn bụi vào mặt anh chắc?

Tôi bật ra một tiếng cười khẽ, và đó là một sai lầm. Bởi vì người chồng tương lai của tôi đã nghe thấy, và cuối cùng anh ta cũng chịu quay lại nhìn tôi.

Ruột gan tôi thắt lại.

Bước chân hơi khựng lại.

Những tiếng xầm xì bỗng im bặt.

Trong bức ảnh tôi được xem, mắt của chú rể có màu xanh dương bình thường hay gặp. Nhưng khi ánh mắt anh ta chạm vào mắt tôi, tôi nhận ra hai điều. Thứ nhất là tôi đã nhầm, ánh mắt anh ta thực ra có một màu xanh lục nhạt kỳ lạ, nhạt đến mức gần như chuyển sang sắc trắng. Thứ hai là cha tôi đã đúng: người đàn ông này cực kỳ, cực kỳ nguy hiểm.

Ánh mắt anh ta đảo qua khuôn mặt tôi, và tôi lập tức nghi ngờ rằng chắc hẳn người ta chưa đưa ảnh tôi cho anh ta xem. Hoặc có thể anh ta chỉ không đủ tò mò về cô dâu của mình để thèm ngó qua? Dù thế nào đi nữa, rõ ràng là anh ta không vừa mắt tôi chút nào. Tiếc thay, tôi đã quá quen với việc làm người khác thất vọng rồi, và giờ tôi cũng chẳng rảnh để tâm. Anh ta không thích những gì mình đang thấy thì đó là việc của anh ta.

Tôi thẳng vai. Khoảng cách giữa chúng tôi thu hẹp dần, và tôi để ánh mắt mình khóa chặt lấy anh ta khi bước lại gần, nhờ vậy tôi được chứng kiến toàn bộ quá trình diễn ra ngay trước mắt.

Đồng tử co giãn.

Lông mày nhíu chặt.

Cánh mũi phập phồng.

Anh ta nhìn tôi như thể tôi là một thứ gì đó tởm lợm sinh ra từ giòi bọ và hít một hơi thật sâu, chậm rãi. Rồi lại một hơi nữa, sắc lẹm, ngay khoảnh khắc tôi được dắt đến trước bàn lễ. Biểu cảm của anh ta giãn ra thành một vẻ gì đó trông như thể bị chấn động một cách khó hiểu trong thoáng chốc. Tôi biết mà, tôi biết Người sói không ưa Ma cà rồng, nhưng cái này còn hơn thế nhiều. Nó giống như một sự khinh miệt cá nhân thuần túy và sâu sắc.

Xui cho anh rồi, bạn hiền ạ, tôi nghĩ thầm, hất cằm lên. Tôi lại bước tới một bước, cho đến khi hai đứa đứng đối diện nhau, ở một khoảng cách mấp mé ranh giới quá gần.

Hai kẻ xa lạ vừa mới gặp mặt. Chuẩn bị kết hôn với nhau.

Tiếng nhạc nhỏ dần. Quan khách ngồi xuống. Tim tôi đập chậm rãi như tiếng trống, thậm chí còn chậm hơn bình thường, bởi cái cách mà chú rể đang sừng sững bao trùm lấy tôi. Anh ta cúi người về phía trước để săm soi tôi như thể tôi là một bức tranh trừu tượng. Tôi nhìn lồng ngực anh ta phập phồng một cách đói khát, như thể muốn… nuốt chửng tôi vào buồng phổi. Rồi anh ta lùi lại, liếm môi, và nhìn chằm chằm.

Anh ta nhìn chằm chằm, nhìn chằm chằm, và nhìn chằm chằm.

Sự im lặng kéo dài. Người chủ trì hắng giọng. Khắp khoảng sân bùng lên những tiếng rì rầm đầy hoang mang, rồi dần biến thành bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt đến nghẹt thở quen thuộc. Tôi nhận ra gã phù rể đã giương vuốt ra. Phía sau tôi, Vania, đội trưởng đội cận vệ của cha, đang nhe nanh. Và Loài Người, dĩ nhiên rồi, đang lăm lăm tay vào súng.

Bất chấp tất cả những điều đó, người chồng tương lai của tôi vẫn cứ nhìn chằm chằm.

Thế là tôi bước lại gần hơn và thì thầm: “Tôi không cần biết anh ghét chuyện này đến mức nào, nhưng nếu anh muốn tránh một thảm kịch Aster thứ hai…”

Tay anh ta đưa lên nhanh như chớp, siết chặt lấy bắp tay tôi, và hơi ấm từ da thịt anh ta truyền qua cơ thể tôi một luồng điện run rẩy, dù cách qua lớp vải áo. Đồng tử của anh ta co lại thành một hình dáng khác, một thứ gì đó dã thú. Theo bản năng, tôi cố giãy giụa để thoát khỏi cái kìm kẹp của anh ta, và… đó là một sai lầm.

Gót giày của tôi vấp phải một viên đá cuội và tôi mất thăng bằng. Chú rể đỡ lấy tôi bằng một cánh tay vòng qua eo, và sự kết hợp giữa trọng lực cùng quyết tâm tuyệt đối của anh ta đã ép chặt tôi vào giữa anh ta và bàn lễ, lồng ngực anh ta áp sát vào ngực tôi. Anh ta giam cầm tôi, khóa chặt tôi, và cúi xuống nhìn tôi như thể anh ta quên mất mình đang ở đâu, và tôi là một thứ gì đó sắp sửa bị xơi tái.

Như thể tôi là con mồi.

“Chuyện này thật là… Ôi trời…” người chủ trì hổn hển thốt lên khi chú rể gầm gừ về phía ông ta. Phía sau lưng, tôi nghe thấy cả tiếng Mẹ Đẻ lẫn tiếng Anh, sự hoảng loạn, những tiếng la hét, hỗn loạn, gã phù rể và cha tôi đang gầm ghè, người ta la hét đe dọa nhau, có ai đó đang sụt sùi khóc. Lại một thảm kịch Aster nữa sắp sửa tái diễn rồi, tôi nghĩ bụng. Và tôi thực sự nên làm cái gì đó, tôi sẽ làm cái gì đó để ngăn nó lại, nhưng…

Mùi hương của chú rể xộc thẳng vào mũi tôi. Mọi thứ xung quanh bỗng lùi lại phía sau.

Máu ngon đấy, bộ não nguyên thủy của tôi rít lên đầy vô tri. Máu của anh ta hẳn là sẽ tuyệt lắm.

Anh ta hít hà liên tục vài hơi thật nhanh, lấp đầy buồng phổi, kéo sát tôi vào người mình. Bàn tay anh ta trượt từ cánh tay lên đến hõm cổ tôi, ấn mạnh vào một trong những vệt màu nhuộm. Một thứ âm thanh nghẹn ứ, trầm đục vang lên từ sâu trong lồng ngực anh ta, khiến đầu gối tôi nhũn ra. Rồi anh ta mở miệng, và tôi biết anh ta sắp sửa xé tôi ra thành từng mảnh, anh ta sắp vồ lấy tôi, anh tasắp nuốt chửng tôi…

“Cô,” anh ta nói, giọng trầm khàn, nhỏ đến mức gần như không thể nghe thấy. “Mẹ kiếp, sao trên người cô lại có cái mùi này?”

Chưa đầy mười phút sau, anh ta lồng một chiếc nhẫn vào ngón tay tôi, và chúng tôi thề nguyện sẽ yêu nhau cho đến khi cái chết chia lìa.

Gửi phản hồi

Thịnh hành

Khám phá thêm từ ⋆ ˚。⋆❀ Thế giới Romantasy ❀⋆ ˚。⋆

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc