Bride – Chương 1

Written by

·

Sáu tuần trước hôn lễ

Cô ta xuất hiện tại công ty công nghệ khởi nghiệp nơi tôi làm việc vào một tối thứ Năm chập choạng, khi mặt trời đã lặn khuất và toàn bộ nhân viên trong văn phòng đang nung nấu ý định bạo lực công sở.

Đối tượng chính là tôi.

Tôi không nghĩ mình đáng bị ghét bỏ đến mức này, nhưng tôi hiểu nguyên do. Và đó là lý do vì sao tôi chẳng thèm làm ầm ĩ lên khi quay lại bàn làm việc sau cuộc họp ngắn với quản lý và chứng kiến tình trạng thê thảm của cái dập ghim. Thành thật mà nói thì cũng chẳng sao. Tôi làm việc ở nhà đến chín mươi phần trăm thời gian và hiếm khi in ấn thứ gì. Ai mà thèm chấp nhặt chuyện có kẻ trét phân chim lên đó cơ chứ?

“Đừng để bụng nhé, Missy.” Pierce tựa người vào tấm vách ngăn buồng làm việc của chúng tôi. Nụ cười của gã chẳng giống một người bạn đang lo lắng chút nào, mà giả tạo y như một gã cò mồi bán xe cũ; ngay cả mùi máu của gã cũng sực lên vẻ nhờn nhợn như dầu mỡ.

“Tôi không bận tâm đâu.” Sự công nhận của người khác là một thứ chất gây nghiện cực mạnh. May mắn cho tôi là tôi chưa từng có cơ hội để sa đà vào nó. Nếu có điều gì mà tôi giỏi nhất, thì đó là việc hợp thức hóa sự khinh miệt của đồng nghiệp dành cho mình. Tôi đã rèn luyện kỹ năng này giống như các thần đồng piano vậy: không biết mệt mỏi và ngay từ thuở ấu thơ.

“Chẳng có gì phải lo sốt vó lên đâu.”

“Tôi đâu có lo.” Theo đúng nghĩa đen luôn. Tôi còn chẳng có đủ các tuyến mồ hôi để mà “sốt vó”.

“Và đừng chấp lão Walker làm gì. Lão không nói cái từ mà cô nghĩ đâu.”

Tôi khá chắc chắn cái từ lão hét toáng lên khắp phòng họp là “đồ điên” chứ không phải “đào tiên”, nhưng ai biết được đấy?

“Chuyện thường ở huyện thôi mà. Cô cũng sẽ điên tiết lên thôi, nếu có đứa nhảy vào chê bôi bảo mật cái tường lửa mà cô đã còng lưng làm suốt mấy tuần, rồi phá tan nó trong vòng mấy? Một tiếng đồng hồ?”

Chỉ mất khoảng một phần ba thời gian đó thôi, tính cả lúc tôi nghỉ giữa chừng sau khi nhận ra mình đang phá banh cái hệ thống đó nhanh đến mức nào. Tôi đã dùng khoảng thời gian trống đó để đặt online một cái giỏ đựng đồ giặt mới, vì cứ hễ tôi cần giặt giũ là con mèo chết tiệt của Serena lại lăn ra ngủ khò trong cái giỏ cũ của tôi. Tôi nhắn cho cậu ấy bức ảnh chụp hóa đơn kèm dòng chữ: Cậu và con mèo của cậu nợ tớ mười sáu đô. Rồi tôi ngồi chờ phản hồi, như tôi vẫn luôn làm vậy.

Không có phản hồi nào cả. Mà tôi cũng chẳng trông đợi gì.

“Mọi người rồi sẽ quên thôi,” gã lại tiếp tục huyên thuyên theo đúng văn phong đặc trưng của Pierce. “Mà này, cô có bao giờ mang cơm trưa đi đâu, nên chẳng phải lo có kẻ thóa mạ ném đá vào hộp thức ăn của mình.” Gã phá lên cười. Tôi quay mặt về phía màn hình máy tính, hy vọng gã biết ý mà lượn đi cho nước nó trong. Nhưng ôi thôi, tôi nhầm to rồi. “Mà nói thật nhé, lỗi một phần cũng ở cô cơ. Nếu cô chịu khó hòa đồng hơn chút… Về mặt cá nhân thì tôi hiểu cái kiểu khép kín, bí ẩn, lầm lì của cô đấy. Nhưng vài người lại thấy cô xa cách, kiểu như cô nghĩ mình thượng đẳng hơn bọn tôi ấy. Nếu cô chịu bỏ chút công sức để…”

“Misery.”

Khi nghe thấy tiếng ai đó gọi tên mình, cái tên thật, trong một khoảnh khắc ngu ngốc đến tột cùng, tôi thở phào nhẹ nhõm vì cuộc hội thoại này cuối cùng cũng kết thúc. Thế rồi tôi rướn cổ lên và nhận ra người phụ nữ đang đứng ở phía bên kia vách ngăn. Gương mặt và mái tóc đen của bà ta có nét quen thuộc mơ hồ xa xăm, nhưng mãi cho đến khi tôi tập trung lắng nghe nhịp tim, tôi mới có thể định vị được danh tính. Nhịp đập chậm rãi đến đặc trưng mà chỉ Ma cà rồng mới có, và…

Chà.

Chết tiệt thật.

“Vania?”

“Tìm cô khó thật đấy,” bà ta nói với tôi, giọng điệu trầm thấp ngân nga. Tôi thoáng có ý nghĩ muốn đập đầu vào bàn phím cho xong. Nhưng rồi tôi chọn cách đáp lại một cách bình thản:

“Tôi cố tình làm vậy mà.”

“Tôi cũng đoán thế.”

Tôi day day thái dương. Đúng là một ngày tồi tệ. Một ngày hãm kinh khủng. “Ấy thế mà, bây giờ bà lại đứng ở đây.”

“Ấy thế mà, bây giờ tôi lại đứng ở đây.”

“Ồ, xin chào.” Nụ cười của Pierce lại tăng thêm một bậc nhớt nháp khi gã quay sang nhìn Vania đầy dâm đãng. Ánh mắt gã bắt đầu từ đôi giày cao gót, lướt dọc theo những đường đường nét thẳng thớm của bộ com-lê tối màu, rồi dừng lại ở khuôn ngực đầy đặn của bà ta. Tôi không biết đọc tâm thuật, nhưng cái suy nghĩ “máy bay bà già ngon nghẻ” đang gào thét ầm ầm trong đầu gã đến mức tôi gần như có thể nghe thấy mồn một. “Cô là bạn của Missy à?”

“Có thể coi là vậy, đúng thế. Từ khi con bé còn nhỏ.”

“Ôi chao ôi. Kể nghe chút đi, Missy hồi nhỏ thế nào vậy?”

Khóe môi Vania giật giật. “Con bé… kỳ quặc, và bướng bỉnh. Dù cũng khá được việc.”

“Khoan đã, hai người có họ hàng với nhau không?”

“Không. Tôi là Cánh tay phải của cha con bé, Thống lĩnh Đội cận vệ,” bà ta nói, mắt hướng về phía tôi. “Và con bé đã có lệnh triệu tập.”

Tôi ngồi thẳng dậy trên ghế. “Đi đâu cơ?”

“Về Tổ (The Nest).”

Chuyện này không chỉ đơn thuần là hiếm, nó là điều chưa từng có tiền lệ. Ngoại trừ vài cuộc điện thoại chớp nhoáng và những cuộc gặp gỡ còn thưa thớt hơn nữa với Owen, tôi đã không hề nói chuyện với bất kỳ Ma cà rồng nào khác trong suốt nhiều năm qua. Bởi vì chẳng có ai thèm liên lạc với tôi cả.

Tôi nên bảo Vania cuốn xéo đi cho rảnh nợ. Tôi không còn là đứa trẻ bị mắc kẹt trong một nhiệm vụ ngu xuẩn nữa: việc quay trở lại gặp cha tôi với bất kỳ kỳ vọng nào rằng ông ta và đồng tộc sẽ không đối xử với tôi như những kẻ khốn nạn hoàn toàn là một trò vô ích, và tôi ý thức rất rõ điều đó. Nhưng rõ ràng là màn khơi mào hời hợt này đang làm tôi lú lẫn, vì tôi nghe thấy chính mình đang hỏi: “Tại sao?”

“Cô phải đi theo tôi thì mới biết được.” Nụ cười của Vania không chạm tới ánh mắt. Tôi nheo mắt nhìn bà ta, như thể câu trả lời được xăm ngay trên mặt bà ta vậy. Trong khi đó, Pierce lại nhắc nhở chúng tôi về sự tồn tại đáng ghét của gã.

“Các quý cô ơi. Cánh tay phải? Triệu tập á?” Gã phá lên cười, âm thanh to và chói tai. Tôi rất muốn búng vào trán gã một cái cho gã biết thế nào là lễ độ, nhưng tôi bắt đầu thấy hơi lo lắng cho cái gã khờ này rồi đấy. “Hai người đang chơi trò nhập vai đời thực (LARPing) hay là…”

Gã cuối cùng cũng phải câm miệng. Bởi vì khi Vania quay sang nhìn gã, không có bất kỳ hiệu ứng ánh sáng nào có thể che giấu đi sắc tím ma mị trong đôi mắt bà ta. Lại càng không thể giấu đi cặp răng nanh dài, trắng muốt đang lóe lên dưới ánh đèn điện.

“C-cô…” Pierce nhìn trân trân vào hai chúng tôi suốt vài giây, lẩm bẩm điều gì đó vô nghĩa.

Và chính ngay lúc đó, Vania quyết định hủy hoại cuộc đời tôi bằng cách nhe nanh gầm ghè với gã. Tôi thở dài, đưa tay bóp chặt sống mũi.

Pierce quay ngoắt đi bỏ chạy thục mạng qua buồng làm việc của tôi, xô ngã cả chậu cây si cảnh. “Ma cà rồng! Ma cà rồng… có một… Một con Ma cà rồng đang tấn công chúng ta, ai đó gọi cho Cục quản lý đi, ai đó gọi…”

Vania rút ra một tấm thẻ ép nhựa có in logo của Cục Ngoại giao Người – Ma cà rồng, thứ mang lại cho bà ta quyền miễn trừ ngoại giao trong lãnh địa Loài Người. Nhưng chẳng có ai ở lại để mà nhìn nó nữa: cả văn phòng đã bùng nổ thành một trận hỗn loạn kinh hoàng, và hầu hết đồng nghiệp của tôi đang la hét, chạy thục mạng xuống cầu thang thoát hiểm. Người ta giẫm đạp lên nhau để lao ra lối thoát gần nhất. Tôi thấy Walker lao ra khỏi nhà vệ sinh, một dải giấy vệ sinh vẫn còn lòng thòng bên chiếc quần kaki của lão, khiến vai tôi trĩu xuống thất vọng.

“Tôi khá thích công việc này đấy,” tôi bảo Vania, với lấy bức ảnh Polaroid có khung hình của tôi và Serena rồi cam chịu nhét nó vào túi xách. “Nó rất nhẹ nhàng. Bọn họ tin cái cớ rối loạn nhịp sinh học của tôi và cho phép tôi đi làm vào ban đêm.”

“Xin lỗi nhé,” bà ta nói, giọng điệu chẳng chút ăn năn. “Đi theo tôi.”

Tôi nên bảo bà ta biến đi cho khuất mắt, và tôi sẽ làm thế. Nhưng trong lúc này, tôi đầu hàng trước sự tò mò của bản thân và lẳng lặng bước theo sau bà ta, không quên dựng lại chậu si cảnh tội nghiệp khi đi ra ngoài.

The Nest vẫn là toà nhà cao nhất thành phố, và có lẽ cũng là công trình đặc trưng nhất: một khối đế màu đỏ như máu ăn sâu xuống lòng đất hàng trăm bộ, bên trên là một tòa tháp chọc trời bằng kính gương phản chiếu – nơi bừng tỉnh sức sống khi hoàng hôn buông xuống và lặng lẽ chìm vào giấc ngủ lúc rạng sáng.

Tôi từng dẫn Serena đến đây một lần, khi cậu ấy ngỏ ý muốn tận mắt chứng kiến trung tâm đầu não của giới Ma cà rồng trông như thế nào, và cậu ấy đã há hốc mồm kinh ngạc, choáng ngợp trước những đường nét bóng bẩy và phong cách thiết kế cực kỳ hiện đại. Cậu ấy cứ ngỡ sẽ được thấy những giá nến cổ kính, những tấm rèm nhung dày cộp để ngăn ánh mặt trời chết chóc, và xác chết của kẻ thù treo lủng lẳng trên trần nhà với những dòng máu bị vắt kiệt đến giọt cuối cùng. Hay những tác phẩm nghệ thuật hình dơi để vinh danh tổ tiên có cánh thuộc loài dơi của chúng tôi. Và cả những cỗ quan tài, chỉ vì thích thế.

Đẹp đấy. Nhưng tớ cứ tưởng nó phải kiểu… hầm hố kinh dị hơn cơ?” cậu ấy lẩm bẩm, chẳng mảy may sợ hãi trước viễn cảnh mình là Con người duy nhất trong một buồng thang máy chật ních Ma cà rồng. Ký ức đó vẫn khiến tôi mỉm cười sau nhiều năm.

Không gian linh hoạt, hệ thống tự động, công cụ tích hợp, đó chính là bản chất của The Nest. Nơi đây không chỉ là viên ngọc quý trên vương miện của lãnh địa chúng tôi, mà còn là trung tâm sinh hoạt của cả cộng đồng. Một tổ hợp của các cửa hàng, văn phòng và dịch vụ hành chính, nơi mà bất kỳ ai trong chúng tôi cần gì, từ dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông thường, giấy phép quy hoạch cho đến năm lít máu nhóm AB dương tính, đều có thể dễ dàng có được. Và rồi, ở những tầng cao nhất, các kiến trúc sư đã dành chỗ cho những khu căn hộ riêng tư, một vài trong số đó đã được mua lại bởi những gia tộc có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong xã hội của chúng tôi.

Phần lớn là gia tộc của tôi.

“Đi theo tôi,” Vania lên tiếng khi cửa thang máy mở ra, và tôi bước theo bà ta, kẹp giữa hai tên lính gác của hội đồng mặc đồng phục, những kẻ chắc chắn không có mặt ở đây để bảo vệ tôi. Thật có chút xúc phạm khi tôi bị đối xử như một kẻ đột nhập ngay tại nơi mình sinh ra, đặc biệt là khi chúng tôi đi dọc theo một bức tường treo đầy chân dung tổ tiên của tôi. Trải qua nhiều thế kỷ, các bức tranh đã thay đổi từ chất liệu sơn dầu, màu acrylic cho đến ảnh chụp, từ tông màu xám, màu Kodachrome cho đến ảnh kỹ thuật số. Nhưng thứ duy nhất không hề thay đổi chính là biểu cảm của họ: xa cách, ngạo mạn, và thẳng thắn mà nói là chẳng hề hạnh phúc. Quyền lực quả thực không phải là một thứ lành mạnh.

Thành viên duy nhất của gia tộc Lark mà tôi nhận ra từ trải nghiệm cá nhân là bức ảnh treo gần văn phòng của cha nhất. Ông nội tôi đã già và có chút lú lẫn vào thời điểm tôi và Owen chào đời, và ký ức sâu sắc nhất của tôi về ông là một lần tôi tỉnh giấc vào giữa đêm, bắt gặp ông đang đứng trong phòng ngủ của mình, vừa chỉ tay vào tôi với đôi bàn tay run rẩy vừa hét lên bằng Cổ ngữ, đại loại là số mệnh của tôi sẽ phải nhận một cái chết thảm khốc.

Công bằng mà nói thì ông cụ chẳng sai đâu.

“Vào đi,” Vania nói rồi gõ cửa nhẹ nhàng. “Nghị viên đang đợi cô.”

Tôi quan sát kỹ gương mặt bà ta. Ma cà rồng không bất tử; chúng tôi cũng già đi giống như mọi chủng tộc khác, nhưng… khốn kiếp thật. Nhìn bà ta cứ như chẳng già đi một ngày nào kể từ lần bà ta hộ tống tôi đến buổi lễ trao đổi Thế chấp. Chuyện từ mười bảy năm trước rồi.

“Cô cần gì à?”

“Không.” Tôi quay người và đưa tay nắm lấy tay nắm cửa. Hơi ngập ngừng. “Ông ấy bị bệnh à?”

Vania có vẻ buồn cười. “Cô nghĩ ông ấy sẽ gọi cô đến đây vì lý do đó sao?”

Tôi nhún vai. Tôi chịu chết chẳng nghĩ ra được một lý do nào khác để ông ta muốn gặp tôi cả.

“Để làm gì? Để than vãn khóc tang à? Hay là để tìm kiếm sự an ủi từ lòng hiếu thảo của cô? Cô sống ở thế giới Loài Người quá lâu rồi đấy.”

“Tôi thì đang nghĩ theo hướng là ông ấy cần một quả thận cơ.”

“Chúng ta là Ma cà rồng, Misery. Chúng ta hành động vì lợi ích của số đông, không thì sẽ chẳng làm gì cả.”

Bà ta biến mất trước khi tôi kịp đảo mắt khinh bỉ, hay kịp tặng cho bà ta một câu “biến đi” mà tôi vẫn luôn nung nấu. Tôi thở dài, liếc nhìn những tên lính gác mặt lạnh như tiền mà bà ta để lại, rồi bước vào văn phòng của cha mình.

Thứ đầu tiên tôi chú ý là hai bức tường hoàn toàn bằng cửa kính, đúng phong cách ưa thích của cha. Bất kỳ Con người nào tôi từng trò chuyện cùng đều mặc định rằng Ma cà rồng căm ghét ánh sáng và chỉ thích bóng tối, nhưng họ nhầm to rồi. Ánh mặt trời có thể là điều cấm kỵ với chúng tôi, luôn độc hại và có thể gây chết người nếu tiếp xúc lượng lớn, nhưng chính vì thế mà chúng tôi lại khao khát nó một cách điên cuồng. Những ô cửa sổ là một thứ xa xỉ, bởi chúng cần được xử lý bằng những vật liệu đắt đỏ đến phi lý để lọc bỏ tất cả những thành phần có hại cho chúng tôi. Và những khung cửa kính khổng lồ cỡ này chính là biểu tượng phô trương nhất cho địa vị, phơi bày trọn vẹn quyền lực gia tộc và khối tài sản kếch xù. Và ở phía sau chúng…

Dòng sông chia cắt Thành Phố thành hai miền Nam – Bắc; chúng tôi và bọn họ. Chỉ có vài kilômet ngắn ngủi ngăn cách The Nest với lãnh địa của Người sói, nhưng dọc bờ sông dày đặc những tháp canh, trạm kiểm soát và bốt gác, được giám sát nghiêm ngặt hai mươi tư trên bảy. Chỉ có duy nhất một cây cầu, nhưng việc qua lại hai đầu cầu đều bị theo dõi gắt gao, và theo những gì tôi biết thì chưa từng có một phương tiện nào đi qua đó kể từ cái thuở trước khi tôi chào đời. Phía bên kia cầu là một vài khu vực an ninh của Người sói, cùng sắc xanh thẫm của một khu rừng sồi trải dài hàng dặm về phía nam.

Tôi luôn nghĩ bọn họ thật thông minh khi không xây dựng các khu dân cư gần một trong những đường biên giới đẫm máu nhất ở vùng Tây Nam này. Khi tôi và Owen còn nhỏ, trước cái ngày tôi bị gửi đi, cha bắt gặp hai đứa đang thắc mắc tại sao đại bản doanh của Ma cà rồng lại đặt gần những kẻ thù nguy hiểm nhất như vậy. “Để ghi nhớ,” ông giải thích. “Và để nhắc nhở.”

Tôi chịu thôi. Hai mươi năm trôi qua, chuyện này vẫn làm tôi thấy hâm dở thế nào ấy.

“Misery.” Cha ngừng gõ trên màn hình cảm ứng rồi đứng dậy khỏi chiếc bàn gỗ gụ sang trọng, gương mặt không cười nhưng cũng không quá lạnh lùng. “Thật vui khi lại được thấy con ở đây.”

“Vâng, đúng là một chuyện hiếm thấy.” Những năm qua có vẻ khá ưu ái Henry Lark. Tôi quan sát vóc dáng cao lớn, khuôn mặt hình tam giác cùng đôi mắt cách xa nhau của ông, và tự nhắc nhở bản thân rằng mình giống ông nhiều đến nhường nào. Mái tóc vàng của ông đã có thêm vài sợi bạc, nhưng vẫn được chải chuốt ngược về sau một cách hoàn hảo. Tôi chưa từng thấy nó ở trạng thái nào khác, chưa bao giờ thấy cha xuất hiện mà thiếu đi vẻ chỉnh chu, tươm tất bẩm sinh. Tối nay, ống tay áo sơ mi trắng của ông có thể được xắn lên, nhưng xắn một cách vô cùng tỉ mỉ. Nếu chúng được dùng để đánh lừa tôi rằng đây là một cuộc gặp gỡ thân mật thông thường, thì chúng thất bại thảm hại rồi.

Và chính vì thế, khi ông chỉ tay vào chiếc ghế da đối diện bàn làm việc và bảo, “Ngồi đi,” tôi quyết định đứng dựa lưng vào cánh cửa.

“Vania bảo cha không sắp chết.” Tôi cố ý nói bằng giọng hỗn hào. Tiếc thay, tôi nghĩ nghe nó lại giống như tôi đang tò mò nhiều hơn.

“Ta tin là con cũng khỏe mạnh.” Ông mỉm cười nhẹ. “Bảy năm qua con thế nào rồi?”

Có một chiếc đồng hồ cổ tuyệt đẹp ở ngay phía sau đầu ông. Tôi nhìn nó tích tắc chạy suốt tám giây rồi mới lên tiếng: “Tuyệt như một quả đào vậy.”

“Thế sao?” Ông dò xét tôi từ đầu đến chân. “Con nên tháo mấy thứ đó ra đi, Misery. Có người lại nhầm con là Loài Người đấy.”

Ông đang ám chỉ đôi kính áp tròng màu nâu của tôi. Thứ mà tôi đã định tháo ra khi còn ngồi trên xe, trước khi quyết định mặc kệ cho xong. Vấn đề là có quá nhiều dấu vết cho thấy tôi đã sống giữa thế giới Loài Người, và hầu hết đều không thể xóa nhòa trong một sớm một chiều. Chẳng hạn như cặp răng nanh mà tôi phải mài bớt cho đỡ nhọn mỗi tuần, chắc chắn không thể thoát khỏi cặp mắt cú vọ của ông. “Con vừa từ chỗ làm qua.”

“À, đúng rồi. Vania có nói con có một công việc. Lại liên quan đến máy tính chứ gì, ta thừa hiểu con mà?”

“Đại loại là thế.”

Ông gật đầu. “Thế còn cô bạn nhỏ của con thì sao? Ta tin là cô ta vẫn bình an vô sự.”

Người tôi cứng đờ. “Sao cha biết cậu ấy…”

“Ồ, Misery. Con không thực sự nghĩ rằng những cuộc trò chuyện giữa con và Owen không bị giám sát đấy chứ?”

Tôi siết chặt nắm tay sau lưng, nghiêm túc cân nhắc chuyện sập cửa bỏ về nhà ngay lập tức. Nhưng hẳn phải có một lý do nào đó ông mới gọi tôi đến đây, và tôi cần phải biết điều đó. Thế nên tôi rút điện thoại ra khỏi túi, bước đến ngồi đối diện với cha và đặt nó ngửa màn hình lên bàn làm việc của ông.

Tôi bấm vào ứng dụng bấm giờ, hẹn đúng mười phút rồi xoay màn hình về phía ông. Sau đó tôi tựa lưng vào ghế. “Tại sao con lại ở đây?”

“Đã nhiều năm rồi ta chưa được gặp lại đứa con gái duy nhất của mình.” Ông mím môi. “Lý do đó còn chưa đủ sao?”

“Còn chín phút bốn mươi ba giây.”

Misery. Con gái của ta.” Ông chuyển sang nói bằng Cổ ngữ. “Tại sao con lại giận ta?” Tôi nhướng mày lên thách thức.

Con không nên cảm thấy tức giận, mà phải thấy tự hào mới đúng. Lựa chọn đúng đắn là lựa chọn đảm bảo hạnh phúc cho số đông mọi người. Và con chính là công cụ để thực hiện lựa chọn đó.

Tôi lặng lẽ quan sát ông. Tôi dám chắc là ông ta thực sự tin vào cái mớ lý thuyết nhảm nhí này. Rằng ông ta nghĩ mình là một người tốt. “Chín phút hai mươi hai giây.”

Gương mặt ông thoáng hiện lên một vẻ buồn bã rất thực. Rồi ông lên tiếng: “Sắp có một đám cưới.”

Tôi ngửa cổ ra sau đầy sửng sốt. “Một đám cưới á? Kiểu… giống như cách Loài Người hay làm ấy hả?”

“Một nghi lễ kết hôn. Giống như Ma cà rồng chúng ta từng tổ chức ngày xưa.”

“Của ai cơ? Của cha á? Cha định…” Tôi chẳng buồn nói hết câu, cái ý nghĩ đó mới lố bịch làm sao. Không chỉ có nghi thức đám cưới đã lỗi thời từ hàng trăm năm trước, mà ngay cả cái khái niệm về một mối quan hệ lâu dài cũng biến mất từ lâu rồi. Hóa ra, khi chủng tộc của bạn quá kém trong việc sinh sản, việc khuyến khích những cuộc phiêu lưu tình ái tự do và tìm kiếm đối tác tương thích về mặt sinh sản sẽ được ưu tiên hơn hẳn chuyện yêu đương lãng mạn. Mà tôi cũng nghi ngờ việc Ma cà rồng từng có khái niệm lãng mạn lắm. “Đám cưới của ai?”

Cha thở dài. “Vẫn chưa được quyết định.”

Tôi không thích chuyện này, hoàn toàn không thích một chút nào, dẫu tôi chưa rõ nguyên do tại sao. Có cái gì đó nhột nhột bên tai, một lời thì thầm hối thúc tôi hãy mau chóng biến khỏi đây ngay, nhưng khi tôi vừa định đứng dậy, cha đã nói: “Vì con đã chọn sống giữa thế giới Loài Người, chắc hẳn con phải theo dõi tin tức của họ chứ.”

“Cũng có một chút,” tôi nói dối. Thậm chí kể cả khi chúng tôi có đang có chiến tranh với lục địa Á-Âu hay đang trên bờ vực nhân bản vô tính kỳ lân đi chăng nữa, tôi cũng chẳng biết được. Tôi còn bận rộn. Tìm kiếm. Lùng sục khắp nơi. “Để làm gì ạ?”

“Loài Người vừa mới trải qua một cuộc bầu cử.”

Tôi hoàn toàn mù tịt, nhưng vẫn gật đầu. “Không biết cảm giác đó thế nào nhỉ.” Một cấu trúc bộ máy lãnh đạo không phải là một hội đồng xa vời vợi, nơi tư cách thành viên chỉ giới hạn trong một nhóm nhỏ các gia tộc, truyền từ đời này sang đời khác như một bộ đồ sứ sứt mẻ.

“Không lý tưởng chút nào. Vì Arthur Davenport đã không được tái đắc cử.”

“Thống đốc Davenport sao?” Thành phố này được chia cắt giữa bầy Người sói bản địa và Ma cà rồng, nhưng phần còn lại của vùng Tây Nam gần như hoàn toàn là lãnh địa của Loài Người. Và trong vài thập kỷ qua, họ đã chọn Arthur Davenport làm người đại diện cho mình, theo những gì tôi nhớ, thì họ chẳng mấy do dự khi bầu cho ông ta. Cái lão già đáng ghét đó. “Thế ai là người mới?”

“Một người phụ nữ. Maddie Garcia là Thống đốc đắc cử, và nhiệm kỳ của bà ta sẽ bắt đầu sau vài tháng nữa.”

“Thế cha có nhận định gì về bà ta không…?” Chắc chắn ông phải có rồi. Sự hợp tác của cha với Thống đốc Davenport chính là động lực cốt lõi đằng sau mối quan hệ hòa hảo giữa hai chủng tộc chúng tôi.

Chà. Dùng từ “hòa hảo” thì có vẻ hơi quá lời. Một Con người bình thường vẫn luôn nghĩ rằng chúng tôi thèm khát hút cạn máu đàn gia súc của họ và tẩy não những người họ yêu thương; một Ma cà rồng bình thường vẫn nghĩ Loài Người mưu mô nhưng bất tài vô dụng, và tài năng lớn nhất của họ là sinh con đẻ cái để lấp đầy vũ trụ bằng nhiều Con người hơn nữa. Chẳng phải hai giống loài chúng tôi hay ho gì việc tụ tập với nhau, ngoại trừ vài sự kiện ngoại giao vô cùng hạn chế và sặc mùi giả tạo. Nhưng ít nhất thì đôi bên đã không còn công khai tàn sát lẫn nhau trong một thời gian dài, và chúng tôi là đồng minh để chống lại Người sói. Được thế là tốt rồi, đúng không?

“Ta không có ý kiến gì cả,” ông nói với tôi bằng giọng bình thản. “Mà ta cũng chẳng có cơ hội để đưa ra nhận định sớm đâu, vì bà Garcia đã từ chối mọi yêu cầu gặp mặt của ta.”

“À.” Bà Garcia này xem ra có vẻ khôn ngoan hơn tôi đấy.

“Tuy nhiên, ta vẫn mang trọng trách đảm bảo an toàn cho thần dân của mình. Và một khi Thống đốc Davenport rời đi, bên cạnh mối đe dọa từ Người sói mà chúng ta liên tục phải đối mặt ở biên giới phía nam, rất có thể sẽ có thêm một mối đe dọa nữa ở phía bắc. Từ Loài Người.”

“Con không nghĩ bà ta muốn gây rắc rối đâu, cha ạ.” Tôi khều khều lớp sơn móng tay. “Chắc bà ta sẽ chỉ giữ nguyên liên minh hiện tại như cũ và cắt giảm bớt mấy cái trò nghi lễ nhảm nhí…”

“Đại diện của bà ta đã thông báo với chúng ta rằng ngay khi bà ta nhậm chức, chương trình Thế chấp sẽ bị hủy bỏ.”

Người tôi đông cứng lại. Rồi từ từ ngước mắt lên. “Cái gì cơ?”

“Chúng ta đã nhận được yêu cầu chính thức về việc hoàn trả Người thế chấp. Và họ cũng sẽ gửi trả lại cô gái hiện đang làm Ma cà rồng Thế chấp…”

“Là con trai,” tôi buột miệng sửa lưng ông theo bản năng. Các đầu ngón tay tôi bỗng thấy tê dại. “Thế chấp hiện tại của Ma cà rồng là một cậu bé.” Tôi từng gặp cậu nhóc một lần. Cậu ta có mái tóc sẫm màu, gương mặt lúc nào cũng cau có và đã nói “Không, cảm ơn” khi tôi hỏi cậu ta có cần giúp bê chồng sách không. Đến giờ chắc cậu ta đã cao bằng tôi rồi cũng nên.

“Trai hay gái thì việc trao trả cũng sẽ diễn ra vào tuần tới. Loài Người đã quyết định không chờ đến khi Maddie Garcia nhậm chức.”

“Con không thấy…” Tôi nuốt nước bọt, lấy lại bình tĩnh. “Thế thì càng tốt chứ sao. Đó là một hủ tục ngu xuẩn.”

“Nó đã đảm bảo nền hòa bình giữa Ma cà rồng và Loài Người suốt hơn một trăm năm qua đấy.”

“Con thì thấy nó hơi tàn nhẫn,” tôi điềm tĩnh phản bác. “Bắt một đứa trẻ tám tuổi phải chuyển đến sống một mình trong lãnh địa kẻ thù để đóng vai con tin.”

“‘Con tin’ là một từ quá thô thiển và phiến diện.”

“Cha giữ một đứa trẻ Loài Người làm vật răn đe suốt mười năm trời, với sự ngầm hiểu giữa đôi bên rằng nếu Loài Người vi phạm các điều khoản liên minh, phía Ma cà rồng sẽ ngay lập tức sát hại đứa trẻ đó. Chuyện đó nghe cũng thô thiển và phiến diện chẳng kém đâu.”

Ánh mắt cha nheo lại. “Chuyện đó không đến từ một phía.” Giọng ông đanh lại. “Loài Người cũng giữ một đứa trẻ Ma cà rồng vì lý do tương tự…”

“Con biết chứ, thưa cha.” Tôi rướn người về phía trước. “Con chính là Ma cà rồng Thế chấp lứa trước đấy, phòng trường hợp cha lỡ quên.”

Tôi cũng chẳng lạ gì nếu ông ta quên thật, nhưng không. Ông ta có thể không nhớ cái cách tôi đã cố nắm lấy tay ông khi chiếc xe bọc thép chở chúng tôi về phía bắc, hay việc tôi cố trốn sau đùi Vania khi lần đầu tiên nhìn thấy đôi mắt có màu sắc kỳ lạ của Loài Người. Có lẽ ông ta không biết cảm giác lớn lên với nỗi ám ảnh rằng nếu thỏa thuận đình chiến giữa chúng tôi và Loài Người đổ vỡ, chính những người nuôi dưỡng đã dạy tôi tập đi xe đạp sẽ bước vào phòng và đâm một nhát dao xuyên tim tôi. Ông ta chẳng thèm bận tâm đến việc mình đã tống con gái đi làm Thế chấp thứ mười một, mười năm làm tù nhân giữa những kẻ căm ghét đồng loại của mình.

Nhưng ông ta nhớ chứ. Bởi vì quy tắc đầu tiên của chương trình Thế chấp, dĩ nhiên rồi, là họ phải có mối quan hệ máu mủ ruột rà với những kẻ nắm quyền hành. Những kẻ đưa ra quyết định liên quan đến hòa bình và chiến tranh. Và nếu Maddie Garcia không muốn đẩy một thành viên trong gia đình mình vào chỗ chết nhân danh an toàn công cộng, điều đó chỉ khiến tôi thêm kính trọng bà ta hơn. Cậu bé tiếp quản vị trí của tôi khi tôi tròn mười tám tuổi chính là cháu trai của Nghị viên Ewing. Và khi tôi làm Thế chấp cho phía Ma cà rồng, đối tác phía Con người chính là cháu trai của Thống đốc Davenport. Tôi từng tự hỏi liệu anh ta có cảm thấy giống tôi không, đôi khi tức giận, đôi khi cam chịu. Phần lớn là cảm giác mình là vật thế thân có thể vứt bỏ bất cứ lúc nào. Tôi thực sự rất muốn biết xem, giờ đây khi nhiều năm đã trôi qua, liệu anh ta có hòa thuận với gia đình mình hơn tôi với gia đình tôi hay không.

“Alexandra Boden. Con có nhớ cô ta không?” Giọng điệu của cha đã trở lại như đang trò chuyện bình thường. “Hai đứa sinh cùng năm đấy.”

Tôi ngồi tựa lại vào ghế, chẳng chút ngạc nhiên trước sự thay đổi chủ đề đột ngột này. “Người có mái tóc đỏ đúng không ạ?”

Ông gật đầu. “Cách đây hơn một tuần, em trai cô ta, Abel, vừa tròn mười lăm tuổi. Tối hôm đó, thằng bé cùng ba đứa bạn đi tiệc tùng bạt mạng, rồi kéo nhau ra gần bờ sông. Được kích động bởi bồng bột và ngu muội của tuổi trẻ, tụi nó thách nhau bơi qua sông, chạm vào bờ đất thuộc lãnh địa Người sói rồi bơi ngược trở lại. Một màn thể hiện lòng dũng cảm, nếu con muốn gọi như thế.”

Tôi chẳng mảy may quan tâm đến số phận của thằng em trai hỗn xược nhà Alexandra Boden, thế nhưng toàn thân tôi vẫn run lên một cái lạnh buốt giá. Tất cả trẻ em Ma cà rồng đều được dạy về sự nguy hiểm của biên giới phía nam. Chúng tôi đều phải học cách nhận biết đâu là nơi lãnh địa của mình kết thúc và nơi của Người sói bắt đầu trước cả khi biết nói. Và tất cả đều biết rõ là đừng có dại mà đụng vào bất cứ thứ gì liên quan đến Người sói.

Ngoại trừ bốn đứa ngu ngốc này, rõ ràng rồi. “Tụi nó chết chắc,” tôi lẩm bẩm.

Môi cha cong lên thành một biểu cảm trông chẳng giống lòng trắc ẩn chút nào, mà nồng nặc vẻ khó chịu. “Đó là cái giá tụi nó phải trả, theo ý kiến thẳng thắn của ta. Tất nhiên, khi không tìm thấy lũ trẻ, người ta đã nghĩ đến tình huống tồi tệ nhất. Ansel Boden, cha của thằng bé, có mối quan hệ mật thiết với vài gia tộc trong hội đồng, và đã đệ đơn đòi một hành động trả đũa. Ông ta lập luận rằng sự mất tích của tụi nó là lý do chính đáng để làm vậy. Ông ta đã được nhắc nhở rằng lợi ích của toàn thể thần dân phải đặt lên trên lợi ích của một cá nhân, nguyên tắc cơ bản mà xã hội Ma cà rồng dựa vào. Tỷ lệ sinh của chúng ta đang ở mức thấp nhất lịch sử, và chúng ta đang đối mặt với họa diệt vong. Đây không phải là lúc khơi mào xung đột. Ấy thế mà, trong một biểu hiện yếu đuối đến khó coi, ông ta vẫn tiếp tục van xin.”

“Thật ghê tởm làm sao. Sao ông ta lại dám đau thương khóc lóc cho con trai mình cơ chứ.”

Cha ném cho tôi một cái nhìn đầy nghiêm khắc. “Nhờ vào mối quan hệ với hội đồng, ông ta suýt chút nữa đã đạt được mục đích rồi đấy. Mới tuần trước thôi, trong khi con đang mải mê đóng giả làm Con người, chúng ta đã suýt rơi vào một cuộc chiến tranh giữa các chủng tộc cận kề nhất trong suốt một thế kỷ qua. Và rồi, hai ngày sau cái trò đùa ngu ngốc của tụi nó…” Cha đứng dậy. Ông bước vòng qua bàn làm việc rồi tựa lưng vào mép bàn, dáng vẻ vô cùng thư thái. “Chúng đã trở lại. Nguyên vẹn.”

Tôi chớp chớp mắt, một thói quen tôi nhiễm phải khi đóng giả làm Con người. “Xác của chúng nó á?”

“Chúng nó còn sống. Tất nhiên là có bị hoảng loạn tinh thần. Chúng nó đã bị lính gác Người sói thẩm vấn, ban đầu bị đối xử như gián điệp, và sau đó là lũ phá phách vô kỷ luật. Nhưng cuối cùng chúng vẫn được trả về nhà, lành lặn và khỏe mạnh.”

“Sao có thể thế được?” Tôi có thể nghĩ ra tới nửa tá vụ việc trong vòng hai mươi năm qua khi biên giới bị xâm phạm, và những gì còn sót lại của những kẻ phạm pháp đều được gửi trả về dưới dạng mảnh vụn. Chuyện đó hầu như xảy ra ở bên ngoài ranh giới thành phố, trong những khu rừng phi quân sự. Bất kể thế nào, Người sói xưa nay chưa từng nương tay với người của chúng tôi, và chúng tôi cũng tàn nhẫn không kém với họ. Điều đó có nghĩa là… “Có chuyện gì đã thay đổi sao?”

“Một câu hỏi thông minh đấy. Con thấy đấy, hầu hết thành viên hội đồng đều cho rằng Roscoe đã trở nên mềm lòng khi về già.” Roscoe. Vị Alpha của bầy Tây Nam. Tôi đã nghe cha nhắc đến ông ta từ hồi còn nhỏ xíu. “Nhưng ta từng gặp Roscoe một lần. Đúng một lần duy nhất, ông ta luôn tỏ rõ sự thờ ơ với chuyện ngoại giao, và những kẻ như ông ta giống như xương sọ vậy. Càng theo thời gian thì càng cứng nhắc hơn thôi.” Ông quay mặt về phía cửa sổ. “Người sói vẫn luôn giữ bí mật tuyệt đối về xã hội của họ như từ trước đến nay. Nhưng chúng ta vẫn có vài cách để thu thập thông tin tình báo, và sau khi gửi đi vài lời dò hỏi…”

“Đã có sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo của họ.”

“Tốt lắm.” Ông có vẻ hài lòng, cứ như thể tôi là một học sinh đã nắm vững tính chất bắc cầu vượt xa mong đợi vậy. “Có lẽ ta nên chọn con làm người kế vị của mình thì hơn. Owen chẳng hề tỏ ra mặn mà gì với vị trí này cả. Thằng bé có vẻ thích đi giao du tiệc tùng hơn.”

Tôi xua xua tay. “Chắc chắn khi cha nghỉ hưu, anh ấy sẽ ngừng đàn đúm với lũ công tử bột thừa kế nghị viên và trở thành một chính trị gia Ma cà rồng hoàn hảo như cha hằng mơ ước thôi mà.” Mơ đi nhé. “Người sói ấy ạ. Thay đổi kiểu gì cơ?”

“Có vẻ như vài tháng trước, đã có kẻ… thách đấu Roscoe.”

“Thách đấu sao?”

“Phương thức truyền đời quyền lực của họ không có gì là tinh vi phức tạp cả. Dù sao thì Người sói cũng có họ hàng gần với loài chó mà. Nói tóm lại là, Roscoe chết rồi.”

Tôi cố nhịn không chỉ ra rằng cái chế độ cai trị cha truyền con nối của chúng tôi nghe còn nguyên thủy hơn, và loài chó thì được cả thế giới yêu mến. “Cha đã gặp người đó chưa? Alpha mới ấy?”

“Sau khi lũ trẻ được trả về an toàn, ta đã yêu cầu một cuộc gặp mặt với hắn. Khá bất ngờ là hắn đã đồng ý.”

“Hắn đồng ý á?” Tôi ghét cái việc mình đang bị cuốn vào câu chuyện này ghê. “Rồi sao nữa?”

“Ta tò mò, con hiểu không. Sự khoan hồng không phải lúc nào cũng là biểu hiện của sự yếu đuối, nhưng nó có thể là vậy.” Ánh mắt ông bỗng chốc nhìn ra xăm xắm, rồi lướt qua một tác phẩm nghệ thuật treo trên bức tường phía đông – một tấm bạt đơn giản được sơn một màu tím thẫm, để tưởng niệm những giọt máu đã đổ trong thảm kịch Aster. Những tác phẩm tương tự có thể tìm thấy ở hầu hết các không gian công cộng. “Và sự phản bội luôn được sinh ra từ sự yếu đuối, Misery.”

“Thế cơ ạ?” Tôi thì luôn nghĩ phản bội đơn giản là phản bội thôi, nhưng tôi thì biết cái gì cơ chứ?

“Hắn không hề yếu đuối, vị Alpha mới đó. Ngược lại là đằng khác. Hắn là…” Cha thu hồi dòng suy nghĩ. “Một thứ gì đó rất khác biệt. Một thứ gì đó hoàn toàn mới.” Ánh mắt ông dừng lại trên người tôi, kiên nhẫn chờ đợi, và tôi lắc đầu, bởi vì tôi không thể tưởng tượng nổi ông ta có lý do gì để kể cho tôi nghe tất cả những chuyện này. Tôi thì có vai trò gì trên bàn cờ này được cơ chứ.

Cho đến khi có một suy nghĩ nhen nhóm hiện lên trong đầu tôi. “Tại sao cha lại nhắc đến một đám cưới?” Tôi hỏi, chẳng buồn giấu diếm sự nghi ngờ trong giọng nói của mình.

Cha gật đầu. Tôi nghĩ mình chắc hẳn đã hỏi đúng câu hỏi rồi, đặc biệt là vì ông không thèm trả lời trực tiếp nó. “Con lớn lên giữa thế giới Loài Người, không có được hưởng nền giáo dục của Ma cà rồng, nên có lẽ con không biết toàn bộ lịch sử xung đột của chúng ta với Người sói. Đúng vậy, chúng ta đã thù địch nhau suốt nhiều thế kỷ, nhưng những nỗ lực đối thoại đã từng được thực hiện. Đã từng có năm cuộc hôn nhân dị tộc giữa chúng ta và Người sói, trong suốt thời gian đó không hề ghi nhận bất kỳ cuộc đụng độ biên giới nào, cũng như không có Ma cà rồng nào mất mạng dưới tay Người sói. Cuộc hôn nhân cuối cùng là từ hai trăm năm trước, một cuộc hôn nhân kéo dài mười lăm năm giữa một Ma cà rồng và cô dâu Người sói của ông ta. Khi cô ta qua đời, một liên minh khác đã được sắp xếp, nhưng cuộc hôn nhân đó đã không có một kết cục tốt đẹp.”

“Thảm kịch Aster.”

“Đúng vậy, thảm kịch Aster.” Lễ cưới thứ sáu đã kết thúc trong một cuộc tàn sát kinh hoàng khi Người sói tấn công Ma cà rồng, những kẻ sau nhiều thập kỷ hòa bình đã trở nên quá mức tin người, và phạm phải sai lầm khi đến dự đám cưới mà hầu như không mang theo vũ khí. Với sức mạnh vượt trội của Người sói cùng yếu tố bất ngờ, đó là một bể máu – phần lớn là máu của chúng tôi. Sắc tím hòa lẫn với vài vệt xanh lục. Giống hệt như một đóa hoa thạch thảo (aster). “Chúng ta không biết tại sao Người sói lại quyết định lật lọng, nhưng kể từ khi mối quan hệ của chúng ta với họ đổ vỡ không thể cứu vãn, có một sự thật luôn hiện hữu: chúng ta có liên minh với Loài Người, còn Người sói thì không. Cứ mỗi một Ma cà rồng thì có tới mười Người sói, và có hàng trăm Con người so với tổng số lượng của cả hai chủng tộc chúng ta cộng lại. Đúng vậy, Loài Người có thể thiếu đi tài năng của Ma cà rồng, hay tốc độ và sức mạnh của Người sói, nhưng sức mạnh nằm ở số lượng. Có họ đứng về phía mình… thật sự rất yên tâm.” Cơ quai hàm của cha bạnh lại. Rồi sau một lúc lâu, mới giãn ra. “Chắc chắn con có thể hiểu vì sao việc Maddie Garcia từ chối gặp ta lại là một mối lo ngại lớn. Thậm chí còn đáng lo hơn nữa khi bà ta lại tỏ ra khá thân thiện với phía Người sói.”

Mắt tôi mở to. Tôi có thể hơi tối cổ về tình hình chính trị của Loài Người, nhưng tôi không nghĩ các mối quan hệ ngoại giao với Người sói lại nằm trong danh sách việc cần làm của họ trong năm nay. Theo những gì tôi biết, họ luôn ngó lơ nhau, chuyện đó không quá khó khăn, vì họ không có chung những đường biên giới quan trọng. “Loài Người và Người sói ấy ạ. Đang đàm phán ngoại giao sao?”

“Chính xác.”

Tôi vẫn giữ thái độ hoài nghi. “Vị Alpha đó đã nói với cha điều này khi hai người gặp mặt à?”

“Không. Đây là thông tin tình báo chúng ta tự thu thập được từ nguồn khác. Vị Alpha đó đã nói với ta những chuyện khác.”

“Ví dụ như?”

“Hắn còn trẻ, con hiểu không. Tầm tuổi con và được đúc từ một khuôn mẫu hoàn toàn khác. Có lẽ cũng man rợ như Roscoe, nhưng tư tưởng cởi mở hơn. Hắn tin rằng nền hòa bình trong khu vực là điều khả thi. Rằng mối quan hệ liên minh giữa cả ba chủng tộc nên được vun đắp.”

Tôi bật cười hứ một tiếng. “Chúc hắn may mắn với cái kế hoạch đó nhé.”

Cha nghiêng đầu sang một bên, ánh mắt ông dán chặt vào tôi, đầy dò xét. “Con có biết vì sao ngày xưa ta lại chọn con làm Thế chấp không? Mà không phải là anh trai con?”

Ôi, thôi xin. Đừng có khơi lại chuyện này chứ. “Tung đồng xu à?”

“Con là một đứa trẻ rất kỳ quặc, Misery. Lúc nào cũng thờ ơ với mọi thứ diễn ra xung quanh, tự nhốt mình trong một căn hầm bí mật trong tâm trí, rất khó để làm thân. Luôn khép kín. Đám trẻ khác cố gắng làm bạn với con, còn con thì cứ bướng bỉnh ngó lơ tụi nó…”

Đám trẻ đó biết rõ con sẽ là đứa bị tống sang chỗ Loài Người, và tụi nó bắt đầu gọi con là đồ phản bội không nanh ngay từ khi tụi nó mới biết bập bẹ thành câu hoàn chỉnh đấy chứ. Hay là cha đã quên mất năm con bảy tuổi, lũ con trai con gái của mấy lão nghị viên đồng nghiệp của cha đã lột sạch quần áo của con rồi đẩy con ra ngoài nắng ngay trước giữa trưa chưa? Và cũng chính những kẻ đó đã nhổ nước bọt vào con, chế giễu con khi con trở về sau mười năm làm kiếp Thế chấp cho tụi nó, nên con không…” Tôi chậm rãi thở ra một hơi, tự nhủ với bản thân rằng mọi chuyện vẫn ổn. Tôi vẫn ổn. Bất khả xâm phạm. Tôi đã hai mươi lăm tuổi, có chứng minh thư giả của Loài Người, có căn hộ riêng, có con mèo (đm Serena), có… Được rồi, có thể hiện tại tôi đang thất nghiệp, nhưng tôi sẽ sớm tìm được việc khác thôi, một công việc giảm bớt được một trăm phần trăm những kẻ như gã Pierce kia. Tôi có bạn bè, một người bạn. Chắc là vậy.

Trên tất cả, tôi đã tự rèn luyện cho mình thói quen không thèm quan tâm. Đến bất cứ điều gì. “Cái đám cưới cha vừa nhắc đến ấy. Của ai vậy?”

Cha mím chặt môi. Vài khoảnh khắc trôi qua trước khi ông lại lên tiếng. “Khi một Người sói và một Ma cà rồng đứng đối diện nhau, tất cả những gì họ nhìn thấy chỉ là…”

“Thảm kịch Aster.” Tôi liếc nhìn xuống điện thoại, đầy sốt ruột. “Còn ba phút bốn mươi bảy giây…”

“Họ nhìn thấy một đám cưới giữa một Ma cà rồng và một Alpha đáng ra phải mang lại hòa bình, nhưng lại kết thúc trong chết chóc. Người sói là lũ thú vật, và sẽ luôn là như vậy, nhưng chúng ta đang trên con đường tuyệt chủng, và lợi ích của số đông phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Nếu chúng ta để Loài Người và Người sói thành lập một liên minh bài trừ chúng ta ra, họ có thể hoàn toàn xóa sổ chúng ta…”

“Ôi Chúa ơi.” Tôi bỗng chốc vỡ lẽ ra cái hướng đi điên rồ, lố bịch mà ông ta đang nhắm tới, và tôi đưa tay che mắt lại. “Cha đang đùa con đúng không?”

“Misery.”

“Không đời nào.” Tôi bật cười thành tiếng. “Cha… chúng ta không thể dùng hôn nhân để thoát khỏi cuộc chiến này được đâu.” Tôi không hiểu vì sao mình lại chuyển sang nói bằng Cổ ngữ, nhưng điều đó rõ ràng đã khiến ông hơi sửng sốt. Và có lẽ thế lại hay, biết đâu đây chính là thứ ông ta đang cần. Một khoảnh khắc để suy nghĩ thấu đáo lại cái sự điên rồ này. “Ai lại chịu đồng ý chuyện này cơ chứ?”

Cha nhìn tôi một cách đầy ẩn ý, đến mức tôi biết ngay lập tức.

Tôi hiểu ngay.

Và tôi phá lên cười dữ dội.

Tôi chỉ thực sự cười sảng khoái như vậy khi ở bên Serena, điều đó có nghĩa là đã hơn một tháng nay tôi chưa từng cười như thế. Bộ não của tôi suýt chút nữa thì nghẹn lại, giật mình trước những âm thanh mới mẻ, kỳ lạ mà thanh quản của mình đang phát ra. “Cha uống phải máu thối rồi à? Cha điên thật rồi.”

Trọng trách của ta là đảm bảo lợi ích cho số đông, và lợi ích của số đông chính là sự trường tồn của chủng tộc chúng ta.” Ông có vẻ hơi tự ái trước phản ứng của tôi, nhưng tôi không thể ngăn nổi tràng cười đang chực trào ra nơi cổ họng. “Đây coi như là một công việc thôi, Misery. Có thù lao xứng đáng.”

Chuyện này đúng là… Chúa ơi, buồn cười thật đấy. Điên rồ hết chỗ nói. “Không một số tiền nào có thể thuyết phục được con… Có đến mười tỷ đô không?”

“Không.”

“Thế thì, không có số tiền nào ít hơn thế có thể thuyết phục con kết hôn với một tên Người sói đâu.”

“Về mặt tài chính, con sẽ được chu cấp vinh hoa phú quý cả đời. Con biết túi tiền của hội đồng dày thế nào rồi đấy. Và chúng ta cũng không kỳ vọng đây là một cuộc hôn nhân thực sự. Con và hắn chỉ là vợ chồng trên danh nghĩa thôi. Con sẽ sống trong lãnh địa Người sói đúng một năm, điều đó sẽ truyền đi một thông điệp rằng Ma cà rồng có thể an toàn khi ở bên Người sói…”

“Ma cà rồng không đời nào được an toàn.” Tôi bật dậy khỏi ghế và bắt đầu bước dậm chân ra xa khỏi ông ta, tay day day thái dương. “Tại sao cha lại bảo con? Con chắc chắn không phải là lựa chọn đầu tiên của cha.”

“Đúng vậy, con không phải lựa chọn đầu tiên,” ông thản nhiên thừa nhận. Ông ta có vô vàn khuyết điểm, nhưng không thật thà thì chưa bao giờ nằm trong số đó. “Cũng chẳng phải lựa chọn thứ hai. Hội đồng đều đồng thuận rằng chúng ta buộc phải hành động, và vài thành viên đã đề xuất người thân của họ. Ban đầu, con gái của Nghị viên Essen đã đồng ý. Nhưng rồi cô ta lại đổi ý phút chót…”

“Ôi, Chúa ơi.” Tôi dừng bước. “Cha đang đối xử với chuyện này giống như một cuộc trao đổi Thế chấp vậy.”

“Dĩ nhiên rồi. Và phía Người sói cũng vậy. Vị Alpha đó sẽ gửi một Người sói đến chỗ chúng ta. Một người có vị trí quan trọng với hắn. Cô ta sẽ ở lại chỗ chúng ta trong suốt thời gian con ở bên hắn. Đảm bảo an toàn song phương cho cả hai bên.”

Điên rồ. Chuyện này hoàn toàn điên rồ rồi.

Tôi hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh lại. “Chà, con…” nghĩ tất cả những kẻ tham gia vào chuyện này đều mất trí rồi, và bất kỳ ai vác mặt đến cái đám cưới đó đều sẽ bị xẻ thịt thôi, và con không thể tin nổi sự ngạo mạn tột cùng của cha khi dám mở lời yêu cầu con chuyện này. “… rất vinh hạnh vì cuối cùng cha cũng nhớ đến con, nhưng không. Cảm ơn cha nhiều.”

“Misery.”

Tôi bước lại gần bàn để lấy điện thoại, còn một phút mười ba giây, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi đứng quá gần cha, đến mức tôi có thể cảm nhận được nhịp đập dòng máu của ông vang vọng trong xương tủy mình. Chậm rãi, đều đặn, và quen thuộc đến nhức nhối.

Nhịp tim cũng giống như dấu vân tay vậy, là duy nhất, là đặc trưng riêng, là cách dễ dàng nhất để phân biệt người với người. Nhịp tim của cha đã in sâu vào da thịt tôi từ cái ngày tôi chào đời, khi ông là người đầu tiên bế tôi, người đầu tiên chăm sóc tôi, người đầu tiên biết đến sự tồn tại của tôi.

Và rồi ông ta rũ bỏ mọi trách nhiệm với tôi.

“Không,” tôi nói. Với ông ta. Và với chính bản thân mình.

“Cái chết của Roscoe là một cơ hội lớn.”

“Cái chết của Roscoe là một vụ tàn sát,” tôi đều giọng chỉ ra. “Bởi chính kẻ mà cha đang muốn con kết hôn cùng đấy.”

“Con có biết năm nay có bao nhiêu đứa trẻ Ma cà rồng được sinh ra ở vùng Tây Nam này không?”

“Con không quan tâm.”

“Chưa đầy ba trăm đứa. Nếu Người sói và Loài Người bắt tay nhau để cướp đất của chúng ta, họ sẽ xóa sổ chúng ta. Hoàn toàn sạch bóng. Lợi ích của số đông…”

“… là sự nghiệp mà con đã đóng góp quá đủ rồi, và chẳng ai tỏ ra biết ơn chút nào cả.” Tôi nhìn thẳng vào mắt ông. Kiên quyết nhét chiếc điện thoại vào túi quần. “Con làm thế là quá đủ rồi. Con có cuộc sống riêng của mình và con sẽ quay trở lại với nó.”

“Con thực sự có cuộc sống riêng sao?”

Tôi khựng lại ngay khi vừa mới quay người đi một nửa. “Cha nói cái gì cơ?”

“Con thực sự có một cuộc sống riêng sao, Misery?” Ông nhìn xoáy vào tôi khi buông lời, đầy ẩn ý, cẩn mật, giống như thể ông ta đang gí một món vũ khí sắc bén mấp mé sát da cổ tôi chỉ một mi-li-mét vậy.

Tớ cần cậu phải biết quan tâm đến một thứ chết tiệt nào đó đi, Misery, một thứ gì đó không phải là tớ.

Tôi gạt phăng ký ức đó ra khỏi đầu và nuốt nước bọt. “Chúc cha may mắn tìm được người thay thế nhé.”

“Con cảm thấy mình không được chào đón giữa đồng tộc. Chuyện này có thể phục hồi lại danh dự của con trong mắt bọn họ đấy.”

Một luồng giận dữ chạy dọc sống lưng tôi. “Con nghĩ con xin kiếu vụ đó, thưa cha. Ít nhất là cho đến khi bọn họ tự phục hồi lại danh dự của chính mình trong mắt con đã.” Tôi lùi lại vài bước, vui vẻ vẫy vẫy tay. “Con về đây.”

“Mười phút của ta vẫn chưa hết mà.”

Điện thoại của tôi lại chọn đúng ngay khoảnh khắc đó để kêu bíp một tiếng. “Vừa đúng lúc luôn.” Tôi nở một nụ cười rạng rỡ với ông. Nếu cặp răng nanh mài cụt của tôi có làm ông khó chịu thì đó là việc của ông ta. “Con đảm bảo là có thêm bao nhiêu thời gian đi nữa cũng không thay đổi được kết quả của cuộc trò chuyện này đâu.”

“Misery.” Âm điệu van nài bắt đầu len lỏi vào giọng nói của ông, điều này xem ra khá là giải trí đấy chứ.

Tiếc quá cơ. Đau lòng ghê. “Hẹn gặp lại cha sau… bảy năm nữa nhé? Hoặc là khi nào cha quyết định rằng chìa khóa dẫn đến hòa bình là một mô hình đa cấp liên doanh giữa Người sói và Ma cà rồng rồi cố mồi chài bán thực phẩm chức năng cho con. Nhưng nhớ bảo Vania đến tận nhà đón con đấy nhé. Con chẳng hào hứng gì với việc phải đi viết lại sơ yếu lý lịch của mình đâu.” Tôi quay người lại để tìm tay nắm cửa.

“Sẽ không có một cơ hội nào nữa sau bảy năm đâu, Misery.” Tôi đảo mắt liên tục rồi mở cửa. “Tạm biệt cha.”

“Moreland là vị Alpha đầu tiên…”

Tôi sập cửa mạnh một cái, dẫu chân chưa kịp bước ra khỏi văn phòng, rồi quay ngoắt người lại đối diện với cha. Tim tôi như ngừng đập rồi thình thịch nện mạnh liên hồi trong lồng ngực. “Cha vừa nói cái gì cơ?”

Ông đứng thẳng dậy khỏi bàn làm việc, gương mặt tràn ngập vẻ hoang mang lẫn một thứ gì đó có vẻ như là hy vọng. “Không có một vị Alpha Người sói nào khác…”

“Cái tên. Cha vừa nhắc đến một cái tên. Ai cơ…?” “Moreland sao?” ông lặp lại.

“Tên đầy đủ của hắn, tên của hắn là gì?”

Ánh mắt cha nheo lại đầy nghi ngờ, nhưng sau vài giây, ông vẫn lên tiếng: “Lowe. Lowe Moreland.”

Tôi nhìn xuống sàn nhà, nơi dường như đang rung chuyển dữ dội. Rồi ngước nhìn lên trần nhà. Tôi hít một chuỗi hơi thật sâu, hơi sau lại càng chậm hơn hơi trước, rồi đưa bàn tay run rẩy vuốt ngược mái tóc, dẫu cánh tay giờ đây nặng trĩu như đeo ngàn cân đá.

Tôi tự hỏi liệu chiếc váy màu xanh lam tôi từng mặc trong lễ tốt nghiệp đại học của Serena có bị coi là quá tuềnh toàng đối với một nghi lễ đám cưới dị tộc hay không. Bởi vì, vâng.

Tôi đoán là mình sắp sửa kết hôn rồi đấy.

Gửi phản hồi

error: Content is protected !!

Khám phá thêm từ Thế giới Romantasy

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc