Anh đang bị vây hãm ngay trong chính ngôi nhà của mình.
Giọng nói trẻ con và đầy hờn dỗi. Nó luồn qua lớp gối rồi lọt thẳng vào tai tôi, đánh thức tôi dậy giữa cái giờ chết chóc nhất của ban ngày.
“Đây từng là phòng của cháu,” giọng nói đó cất lên.
Lớp sàn nhà bên dưới cứng ngắc. Đầu óc tôi thì mơ màng, tai ù đi như nhét bông và tôi chẳng rõ mình đang ở đâu, tại sao, hay kẻ nào lại dám reo rắc nỗi ô nhục này lên người tôi: đánh thức tôi dậy khi mặt trời đang chói chang trên đỉnh đầu và tôi thì bị rút cạn sức lực.
“Cháu trốn ở đây được không? Hôm nay cô ấy cáu bẳn lắm.”
Tôi gom góp nguồn năng lượng tích trữ của cả nửa năm trời để chui ra khỏi đống chăn mền, nhưng lại chẳng còn chút hơi sức nào để mở mắt.
Không, Ma cà rồng chúng tôi không bị tan biến thành cát bụi lấp lánh dưới ánh mặt trời giống như mấy quả bom kim tuyến đâu. Ánh nắng thiêu đốt và khiến chúng tôi đau đớn, nhưng nó sẽ không giết chết chúng tôi trừ khi bị phơi sáng trực tiếp và kéo dài. Dẫu vậy, chúng tôi gần như trở thành kẻ vô dụng vào giữa ngày, ngay cả khi ở trong nhà. Đờ đẫn, yếu ớt, bứt rứt và nhức đầu, đặc biệt là vào khoảng cuối xuân và mùa hè, khi những tia nắng chiếu xuống theo một góc gắt đến khó chịu. “Cái lối sống cú đêm này của cậu thực sự đang làm đảo lộn thói quen ăn trưa muộn của tớ đấy,” Serena từng bảo thế. “Cả cái việc cậu chẳng chịu ăn uống gì nữa.”
“Có thật là cô không có linh hồn không?”
Xin người giờ đang là giữa trưa đấy. Và có một đứa trẻ đang ở đây, hỏi tôi: “Có phải vì cô từng là người chết không?”
Tôi cố hé mắt ra và nhìn thấy con bé ngay tại đây, trong cái tủ quần áo tôi lót ổ nằm từ tờ mờ sáng. Nhịp tim của con bé đập rộn ràng đầy phấn khích, giống như một chú nai con bị nhốt lâu ngày. Mặt tròn. Tóc xoăn. Trông chẳng khác gì một con búp bê American Girl.
Rất phiền phức.
“Cháu là ai?” Tôi hỏi.
“Và sau đó cô bị ép phải uống máu người khác à?”
Con bé này, tôi đoán chừng, đâu đó tầm ba đến trên dưới mười ba tuổi. Tôi chẳng có cách nào thu hẹp khoảng cách này hơn được nữa: ở trường hợp này, sự thờ ơ tột độ của tôi với trẻ con lại va phải sự quyết tâm né tránh bất cứ thứ gì liên quan đến Người sói trong suốt hai mươi lăm năm qua. Và trên hết, đôi mắt con bé mang một sắc xanh lục nhạt đầy nguy hiểm và quen thuộc.
Tôi không thích chuyện này tí nào. “Sao cháu vào được đây?”
Con bé chỉ tay về phía cánh cửa tủ quần áo đang mở toang như thể tôi là một kẻ ngốc. “Và rồi cô sống lại, nhưng không có linh hồn ạ?”
Tôi nheo mắt nhìn con bé trong không gian gần như tối mịt, thầm biết ơn vì nó chưa kéo rèm cửa ra. “Có thật là cháu từng bị chó dại cắn và giờ trở thành một sinh vật đầy lông lá, cứ đến đêm trăng tròn là sùi bọt mép không?” Tôi đang cố tỏ ra khó ưa, nhưng con bé lại bật cười khúc khích làm tôi có cảm giác mình như một diễn viên hài độc thoại vậy.
“Không đâu, đồ ngốc.”
“Vậy thì đấy. Cháu có câu trả lời rồi nhé. Trong khi cô vẫn chưa biết sao cháu vào được đây.” Con bé lại chỉ tay về phía cửa, và tôi tự nhủ với lòng mình là sẽ không bao giờ sinh con. “Cô khóa cửa rồi mà.” Tôi chắc chắn là mình đã khóa. Tôi cam đoan là mình không thể trải qua đêm đầu tiên giữa bầy Người sói mà lại quên khóa cái cánh cửa chết tiệt kia được. Tôi cứ nghĩ rằng dù chúng có sức mạnh siêu nhiên đi nữa, nếu một đứa muốn ăn tươi nuốt sống tôi, thì một cánh cửa khóa chặt cũng sẽ chặn chúng lại được đôi chút. Vì Người sói chắc chắn phải chế tạo ra loại cửa chống được Người sói chứ, đúng không?
“Cháu có chìa khóa dự phòng,” đứa trẻ Người sói nói.
Ồ.
“Đây từng là phòng của cháu. Nên nếu có gặp ác mộng, cháu sẽ chạy sang chỗ Lowe. Qua lối kia kìa.” Con bé chỉ tay về phía một cánh cửa khác. Cái tay nắm cửa mà đêm qua tôi còn chẳng buồn chạm thử. Tôi đã nghi ngờ căn phòng thông nhau kia thuộc về ai rồi, và tôi không muốn phải đối mặt với loại chấn thương tâm lý đó vào lúc năm giờ sáng. “Chú ấy bảo cháu vẫn sang được, nhưng giờ cháu phải ở phòng đối diện bên kia hành lang.”
Một chút cảm giác tội lỗi len lỏi vào sự kiệt sức của tôi: tôi đã đuổi một đứa trẻ ba (hay mười ba?) tuổi ra khỏi phòng và ép con bé phải đi qua cả một dãy hành lang dài trong nỗi sợ hãi của những cơn ác mộng kinh hoàng, lặp đi lặp lại chỉ để đến được chỗ…
Ôi, thôi xong. “Làm ơn nói cho cô biết Moreland không phải cha cháu đi.”
Con bé không trả lời. “Cô có bao giờ gặp ác mộng không?”
“Ma cà rồng không mơ.” Ý tôi là, tôi có thể chấp nhận việc chia rẽ cặp tình nhân hay đại loại thế, nhưng cả một gia đình ư? Một đứa trẻ với… Ôi, vãi thật. “Mẹ cháu đâu?”
“Cháu không rõ nữa.”
“Mẹ cháu có sống ở đây không?”
“Giờ thì không ạ.”
ĐM. “Mẹ cháu đâu rồi?”
Con bé nhún vai. “Lowe bảo không biết.”
Tôi dụi mắt. “Có phải Moreland… ý cô là Lowe, là cha cháu không?”
“Cha của Ana chết rồi.” Giọng nói vang lên từ phía ngoài tủ quần áo, và cả hai chúng tôi cùng quay lại.
Đứng dưới luồng sáng hắt vào từ hành lang là một người phụ nữ tóc đỏ. Cô ta xinh đẹp, khỏe khoắn và săn chắc theo kiểu có thể chạy ngay một trận bán marathon mà không cần chuẩn bị trước. Cô ta nhìn tôi bằng ánh mắt vừa lo ngại vừa thù địch, cứ như thể tôi có sở thích bệnh hoạn là đem dế mèn ra đốt bằng dầu hỏa vậy.
“Nhiều đứa trẻ Người sói bị mồ côi, và phần lớn là do những kẻ Ma cà rồng như cô. Tốt nhất là đừng hỏi chúng về tung tích của cha mẹ. Lại đây nào, Ana.”
Ana chạy bổ về phía cô ta, nhưng trước đó không quên thì thầm với tôi, “Cháu thích đôi tai nhọn của cô lắm,” với âm lượng quá lớn.
Tôi quá mệt mỏi để có thể giải quyết đống rắc rối này vào giữa trưa. “Cô không biết chuyện đó. Cô xin lỗi, Ana.”
Ana có vẻ chẳng bận tâm mấy. “Không sao đâu ạ. Cô Juno chỉ hay càu nhàu thôi. Cháu có thể sang chơi với cô khi…”
“Ana, xuống nhà ăn chút gì đi. Lát nữa cô xuống.”
Ana thở dài, đảo mắt rồi bĩu môi như thể vừa bị bắt đi khai thuế, nhưng cuối cùng con bé cũng chịu rời đi, không quên ném lại cho tôi một nụ cười tinh nghịch. Bộ não ngái ngủ của tôi thoáng nghĩ đến việc cười đáp lại, nhưng rồi chợt nhớ ra mình vừa mới để cho răng nanh mọc dài trở lại.
“Con bé là em gái của Lowe,” Juno thông báo với giọng đầy che chở. “Làm ơn tránh xa con bé ra.”
“Cô nên nói chuyện đó với con bé thì hơn, vì nó vẫn giữ chìa khóa dự phòng của căn phòng cũ này đấy.”
“Tránh xa ra,” cô ta lặp lại. Bớt đi vẻ lo lắng, tăng thêm phần đe dọa.
“Được rồi. Chắc chắn rồi.” Tôi vẫn sống tốt mà không cần phải giao du với một đứa nhóc thậm chí còn chưa phát triển hoàn thiện nhận thức. Mặc dù về mặt lý thuyết thì Ana đang là người bạn thân duy nhất của tôi ở vùng đất Người sói này. Lựa chọn ở đây ít ỏi quá mà. “Juno đúng không? Tôi là Misery.”
“Tôi biết.”
Tôi đoán thế. “Cô là một trong những cận vệ của Lowe à?”
Cô ta căng cứng người, khoanh hai tay trước ngực. Ánh mắt cô ta sụp xuống đầy cảnh giác. “Cô không nên.”
“Không nên?”
“Hỏi han về đàn. Hay bắt chuyện với chúng tôi. Hoặc đi lại xung quanh mà không có người giám sát.”
“Nhiều luật lệ gớm nhỉ.” Lại còn áp đặt lên một người trưởng thành. Trong vòng một năm nữa chứ.
“Luật lệ sẽ giữ cho cô được an toàn.” Cô ta hất cằm lên. “Và giữ cho những người khác an toàn khỏi cô.”
“Nghe cao thượng ghê. Nhưng có thể cô sẽ thấy yên tâm hơn khi biết rằng tôi đã sống giữa thế giới loài người gần hai thập kỷ, và số người tôi sát hại là…” Tôi giả vờ kiểm tra lòng bàn tay như thể xem ghi chú. “Tròn trĩnh một con số không. Ghê không.”
“Ở đây sẽ khác đấy.” Ánh mắt cô ta rời khỏi tôi và đảo quanh một lượt các góc phòng, nơi vẫn còn là một bãi chiến trường ngổn ngang những thùng các-tông chuyển nhà và đống quần áo chất thành đống. Ánh nhìn của cô ta khựng lại ở chiếc đệm trống trơn, giờ đã bị lột sạch ga trải giường cùng chăn mền do tôi đã lôi hết vào trong tủ quần áo, rồi dừng lại ở thứ duy nhất tôi treo trên tường: bức ảnh Polaroid chụp tôi và Serena đang nhìn đi chỗ khác trong chuyến tham quan hồ lúc hoàng hôn cách đây hai năm. Một gã nào đó đã tự tiện chụp lén khi chúng tôi đang thả chân nghịch nước. Rồi gã đưa bức ảnh ra và bảo sẽ chỉ trả lại nếu một trong hai đứa cho gã số điện thoại. Chúng tôi đã làm một việc vô cùng hợp tình hợp lý: lao vào khóa cổ gã và giật lại bức ảnh bằng vũ lực.
Hóa ra mấy trò tự vệ tụi tôi học được cũng có tác dụng khi dùng để tấn công đấy chứ.
“Tôi biết cô đang giở trò gì rồi,” Juno lên tiếng, và trong một khoảnh khắc tôi đã sợ rằng cô ta đọc được suy nghĩ của mình. Rằng cô ta biết tôi đến đây để tìm kiếm Serena. Nhưng cô ta lại nói tiếp, “Cô có thể cố biến mình thành một quân tốt thí, nói rằng mình chấp nhận điều này chỉ vì hòa bình, nhưng… tôi không tin đâu. Và tôi không ưa cô.”
Không lòng vòng. “Và tôi cũng chưa biết rõ về cô để đánh giá. Nhưng cái quần jeans của cô trông ngầu đấy.” Cuộc trò chuyện thật là hấp dẫn, nhưng tôi sắp ngất đi vì mệt rồi. May thay, sau khi ném cho tôi một cái nhìn sắc lẹm cuối cùng, Juno cũng rời đi.
Khóe mắt tôi thoáng thấy một bóng đen chuyển động. Tôi quay lại, nửa mong đợi là Ana quay trở lại, nhưng hóa ra đó lại là con mèo chết dẫm của Serena, đang vươn vai bò ra từ gầm giường.
“Giờ mới chịu chườn mặt ra hả.”
Nó rít lên với tôi.
Trong suốt mười lăm năm làm bạn, tôi đã gom góp được cả nửa triệu lý do lớn, nhỏ lẫn vừa để yêu thương Serena Paris với một tình cảm mãnh liệt như những ngôi sao sáng nhất. Thế rồi, cách đây vài tuần, có một lý do xuất hiện đã xóa sạch tất thảy mọi thứ, khiến tôi căm ghét cậu ấy với sức mạnh của cả ngàn vầng trăng tròn.
Con mồn lèo của cậu ấy.
Theo quy luật, Ma cà rồng không nuôi thú cưng. Hay thú cưng không thèm chơi với Ma cà rồng? Tôi cũng chẳng rõ bên nào bắt đầu trước. Có lẽ chúng nghĩ mùi của chúng tôi kinh tởm vì chúng tôi là sinh vật bắt buộc phải hút máu để sống. Hoặc có lẽ chúng tôi bài xích chúng vì chúng quá hòa hợp với Người sói và Con người. Dù thế nào đi nữa, khi tôi bắt đầu sống giữa loài người, khái niệm về một con vật nuôi trong nhà đối với tôi là một thứ vô cùng xa lạ.
Người giám hộ đầu tiên của tôi nuôi một chú chó nhỏ mà thỉnh thoảng cô ấy cứ xách đi khắp nơi trong túi xách, và thành thật mà nói, tôi sẽ bớt sốc hơn nếu thấy cô ấy dùng bàn chải nhà vệ sinh để chải tóc. Tôi nhìn nó với ánh mắt nghi ngờ suốt mấy ngày liền. Tôi nhe răng nanh ra khi nó nhe răng với tôi. Cuối cùng, tôi lấy hết can đảm để hỏi người giám hộ xem khi nào thì cô ấy định thịt nó.
Đêm đó cô ấy xin nghỉ việc luôn.
Kể từ đó, thế giới động vật và tôi chung sống vô cùng hòa bình, luôn nhường đường cho nhau trên vỉa hè và thỉnh thoảng lắm mới lườm nguýt nhau một cái. Cuộc sống quả là một niềm hạnh phúc thuần khiết, cho đến khi con mồn lèo của Serena xuất hiện. Tôi đã cố hết sức để can ngăn cậu ấy nhận nuôi nó. Cậu ấy thì cố hết sức giả vờ như điếc. Rồi khoảng ba ngày sau khi rước cái của nợ nặng gần 6kg từ trạm cứu hộ về nhà, cậu ấy biến mất tăm vào hư không.
Bùm.
Việc lớn lên giữa những âm mưu ám sát nhiều như răng sữa đã tôi luyện và dạy tôi phải luôn giữ bình tĩnh dưới áp lực. Ấy vậy mà tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác cồn cào, thắt quặn đầu tiên trong bụng khi Serena không đến nhà tôi vào đêm giặt ủi định kỳ. Không trả lời tin nhắn. Không nghe máy. Không hề xin nghỉ ốm ở chỗ làm, và cứ thế biến mất không một dấu vết. Cảm giác đó rất giống với sự sợ hãi.
Có lẽ chuyện đã không xảy ra nếu chúng tôi vẫn sống chung. Và nói thật, tôi hoàn toàn thoải mái với việc ở ghép phòng. Nhưng sau những năm đầu đời ở cô nhi viện và những năm tiếp theo với tư cách là người bầu bạn của đứa trẻ Ma cà rồng bị giám sát chặt chẽ nhất thế giới, cậu ấy chỉ muốn duy nhất một điều: sự riêng tư. Dẫu vậy, cậu ấy vẫn đưa cho tôi một bộ chìa khóa dự phòng, và cảm giác đó giống như một đặc ân quý giá, tuyệt đẹp được ban tặng; tôi đã cẩn thận giấu chúng vào một nơi bí mật. Đến mức khi cậu ấy mất tích, tôi đã quên béng mất chỗ giấu từ đời nào.
Vì vậy, ngày hôm đó tôi đã đột nhập vào căn hộ của cậu ấy bằng một chiếc ghim tóc. Đúng theo cái cách cậu ấy dạy tôi năm mười hai tuổi, khi mà phòng TV là khu vực cấm và một bộ phim mỗi ngày là không bao giờ đủ. Thật nhẹ nhõm khi cái xác thối rữa của cậu ấy không bị nhét trong tủ đông, hay bất cứ nơi nào khác. Tôi cho con mồn lèo của cậu ấy ăn trong khi nó vừa gào lên như sắp chết đói vừa rít lên đầy giận dữ với tôi; kiểm tra lại xem kính áp tròng màu nâu đã đúng vị trí chưa và răng nanh đã được mài nhẵn hẳn chưa; rồi sau đó đến đồn cảnh sát để trình báo người mất tích.
Và nhận được câu trả lời: “Chắc cô nàng đang đi chơi với bạn trai ở đâu đó thôi.”
Tôi cố chớp mắt để trông giống Con người nhất có thể. “Không thể tin được là cậu ấy lại kể với các anh về chuyện tình cảm của mình chứ không phải tôi, người bạn thân thiết suốt mười lăm năm qua.”
“Nghe này cô gái trẻ.” Viên cảnh sát thở dài. Gã là một người đàn ông trung niên cao gầy với nhịp tim bất ổn hơn mức bình thường. “Nếu mỗi lần có ai đó ‘mất tích’, mà ý tôi là họ bỏ đi và quên không báo cho người quen biết họ đi đâu, mà tôi được một đồng xu…”
“Thì anh sẽ có bao nhiêu tiền?” Tôi nhướng mày.
Gã có vẻ hơi bối rối, dù chưa đến mức khiến tôi vừa lòng. “Tôi cá là cô ấy đang đi nghỉ mát. Cô ấy có bao giờ tự đi du lịch một mình không?”
“Có, thường xuyên là đằng khác, nhưng cậu ấy luôn báo trước cho tôi. Thêm nữa, cậu ấy là phóng viên điều tra của tờ Người đưa tin (The Herald), và không hề xin nghỉ phép.” Theo như hệ thống của họ cho biết. Cái hệ thống mà tôi đã hack.
“Chắc cô ấy hết ngày nghỉ phép nhưng vẫn muốn… tôi không biết nữa, lái xe đến Las Vegas thăm dì chẳng hạn. Chỉ là hiểu lầm thôi.”
“Chúng tôi đã có hẹn với nhau, và cậu ấy là một đứa trẻ mồ côi không gia đình, không bạn bè, cũng chẳng có xe hơi. Theo cổng thông tin ngân hàng của cậu ấy, nơi cậu ấy đã cho tôi quyền truy cập”, đại loại thế… “không có giao dịch rút tiền mặt hay thanh toán online nào được thực hiện. Nhưng có khi anh đúng đấy, biết đâu cậu ấy đang nhảy lò cò bằng gậy nhún đến Las Vegas thì sao?”
“Không cần phải gắt gỏng thế đâu cô gái. Ai trong chúng ta cũng muốn nghĩ mình quan trọng đối với những người quan trọng với mình. Nhưng đôi khi, bạn thân của chúng ta lại là bạn thân của một người khác.”
Tôi nhắm mắt lại để đảo mắt một cái thật dài phía sau hàng mi.
“Hai người có cãi nhau không?” Viên cảnh sát hỏi.
Tôi khoanh tay trước ngực và hóp má lại. “Đó không phải là vấn đề…”
“Hà.”
“Được rồi.” Tôi nhíu mày. “Cứ cho là Serena ghét bỏ tôi đi. Cậu ấy cũng không đời nào bỏ lại con mèo của mình, đúng không?”
Gã khựng lại. Rồi lần đầu tiên, gã gật đầu và cầm lấy cuốn sổ tay. Tôi nhen nhóm một tia hy vọng. “Tên con mèo là gì?”
“Cậu ấy vẫn chưa kịp đặt tên cho nó, mặc dù lần cuối chúng tôi nói chuyện thì cậu ấy đang cân nhắc giữa Maximilien Robespierre và…”
“Cô ấy nuôi con mèo này bao lâu rồi?”
“Vài ngày? Nhưng cậu ấy vẫn không để cái đồ đáng ghét đó chết đói đâu,” tôi vội vàng nói thêm, nhưng viên cảnh sát đã buông bút xuống. Và dù tôi đã quay lại đồn ba lần trong tuần đó, cuối cùng cũng thành công lập được hồ sơ người mất tích, chẳng có ai thèm nhấc một ngón tay để tìm kiếm Serena. Tôi đoán đó là cái giá của việc đơn độc trên đời này: không một ai quan tâm liệu cậu ấy có an toàn, khỏe mạnh và còn sống hay không. Không một ai ngoại trừ tôi, mà tôi thì chẳng được tính. Tôi không nên ngạc nhiên, và tôi cũng chẳng ngạc nhiên. Nhưng rõ ràng tôi vẫn biết đau lòng.
Bởi vì cũng chẳng có ai quan tâm liệu tôi có an toàn, khỏe mạnh hay còn sống hay không. Không một ai ngoại trừ Serena. Người chị em trong tim tôi, dẫu không cùng chung huyết thống. Và dù tôi đã quá quen với việc cô độc, tôi chưa bao giờ cảm thấy cô đơn đến thế kể từ khi cậu ấy ra đi.
Tôi ước gì mình có thể khóc. Tôi ước mình có tuyến lệ để giải tỏa nỗi kinh hoàng tột độ này, nỗi sợ rằng cậu ấy đã bỏ đi mãi mãi, rằng cậu ấy đã bị bắt đi, rằng cậu ấy đang phải chịu đau đớn, rằng đó là lỗi của tôi và tôi đã đẩy cậu ấy đi sau cuộc trò chuyện cuối cùng của hai đứa. Tiếc thay, đặc điểm sinh học không đứng về phía tôi. Vì vậy, tôi giải tỏa cảm xúc bằng cách đến căn hộ của cậu ấy và chăm sóc con mèo chết dẫm kia, và nó thể hiện sự biết ơn bằng cách cào tôi mỗi ngày.
Và tất nhiên, bằng cả việc tìm kiếm cậu ấy ở những nơi tôi không nên đụng vào.
Sau cùng thì tôi cũng có chìa khóa. Bởi vì chìa khóa của mọi thứ suy cho cùng chỉ là một dòng mã code. Tôi có thể lục lọi các sao kê ngân hàng, địa chỉ IP, vị trí điện thoại của cậu ấy. Các email ở tòa soạn Người đưa tin, siêu dữ liệu, lịch sử sử dụng ứng dụng. Serena là một nhà báo, người chuyên viết về mấy thứ tài chính nhạy cảm, và khả năng cao nhất là cậu ấy đã vướng vào chuyện gì đó mờ ám trong lúc thực hiện một bài viết, nhưng tôi không loại trừ các khả năng khác. Thế nên tôi đã rà soát lại mọi thứ, và kết quả là… chẳng có gì cả.
Hoàn toàn không có gì.
Sự biến mất của Serena đúng nghĩa đen là bốc hơi vào không khí. Nhưng người ta không thể di chuyển trong thế giới này mà không để lại dấu vết kỹ thuật số, điều đó chỉ có thể chỉ ra một điều duy nhất. Một điều kinh khủng, nổi da gà mà tôi thậm chí không dám diễn đạt thành lời ngay cả trong suy nghĩ thầm kín nhất của mình.
Và đó là lúc tôi làm cái việc này: Tôi quỳ xuống trước mặt con mồn lèo của Serena. Nó đang chơi đùa như thói quen sau bữa tối, lấy chân khều một tờ hóa đơn nhăn nhúm trong góc phòng khách, nhưng vẫn cố chen vài tiếng rít đầy giận dữ vào lịch trình bận rộn của mình chỉ để dành riêng cho tôi. “Nghe này.” Tôi nuốt nước bọt. Xoa xoa tay lên ngực và thậm chí còn vỗ mạnh vào đó, cố làm dịu đi nỗi đau nhói. “Tao biết mày chỉ mới biết cậu ấy vài ngày, nhưng tao thực sự, thực sự…” Tôi nhắm chặt mắt lại. Ôi đm, chuyện này khó khăn quá. “Tao không biết chuyện xảy ra như thế nào, nhưng tao nghĩ có thể Serena đã…”
Tôi mở mắt ra, vì tôi nợ cái con mèo đáng ghét này một cái nhìn thẳng thắn. Và đó chính là lúc tôi nhìn thấy rõ thứ đó.
Tờ hóa đơn kia, hóa ra không phải là một tờ hóa đơn bị vo viên. Đó là một mảnh giấy được xé ra từ một cuốn nhật ký, hoặc có lẽ là một cuốn sổ tay, hoặc… không. Một cuốn sổ planner. Cuốn sổ planner lỗi thời đến khó tin của Serena.
Trang giấy đó nằm đúng vào ngày cậu ấy mất tích. Và trên đó có một chuỗi các ký tự, được viết vội vã bằng bút dạ đen. Trông như những lời vô nghĩa.
Hoặc có lẽ không hẳn vậy. Một hồi chuông ký ức vang lên từ xa xăm, nhắc tôi nhớ về một trò chơi mà tôi và Serena thường chơi hồi nhỏ, một kiểu mật mã thay thế thô sơ mà tụi tôi tự nghĩ ra để có thể thoải mái buôn chuyện trước mặt những người giám hộ. Chúng tôi đặt tên cho nó là bảng chữ cái cánh bướm, và nó chủ yếu bao gồm việc thêm các âm tiết b- và f- vào các từ bình thường. Chẳng có gì phức tạp: dù đã lâu không dùng đến, bộ não của tôi chỉ mất vài giây để giải mã nó. Và sau khi hoàn thành, tôi đã có được câu trả lời. Tôi có chính xác ba từ trọn vẹn:
L. E. MORELAND

Gửi phản hồi